CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Hiện nay, mỗi quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà có thể tự cung ứng tất cả những nhu cầu của mình. Vì vậy, đòi hỏi họ phải có sự trao đổi diễn ra trên thị trường và thị trường ở đây không chỉ giới hạn trong nước mà còn có sự trao đổi giữa các quốc gia khác nhau. Các doanh nghiệp hiện nay muốn tồn tại và phát triển thì phải có khả năng kinh doanh vì trong hoạt động kinh doanh luôn có lãi, lỗ.
Các doanh nghiệp hoạt động đều muốn thu được doanh thu và lợi nhuận cao. Điều đó tất yếu phải tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong kinh doanh các doanh nghiệp phải có các thủ thuật chiến lược. để cho nó hoạt động có hiệu quả nhất.
Kinh doanh còn được hiểu là loại hình hoạt động kinh tế đặc thù trong quá trình sản xuất, khai thác, chế biến, buôn bán hàng hóa và dịch vụ với chức năng cơ bản là tìm kiếm những nhu cầu của xã hội chưa được đáp ứng và tập hợp những nguồn lực cần thiết để đáp ứng các nhu cầu đó. Luật Doanh nghiệp Việt Nam xác định: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Theo quan niệm truyền thống, kinh doanh được hiểu đơn giản là cách làm giàu của con người trên thương trường, là hành vi buôn bán để kiếm lợi. Tuy nhiên, dù hiểu khái niệm này theo nghĩa truyền thống hay hiện đại thì một điều chắc chắn là trong mỗi hoạt động kinh doanh tối thiểu phải có hai đối tượng tham gia là chủ thể kinh doanh và khách hàng - đối tượng của chủ thể kinh doanh đó.
Hai nhân vật này luôn ràng buộc, gắn bó, quy định lẫn nhau. Khách hàng cần hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh để thỏa mãn nhu cầu của mình. Còn chủ thể kinh doanh lại cần khách hàng mua hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hóa hay dịch vụ của mình để có thể thu được lợi nhuận, nhờ đó có thể duy trì và phát triển công việc kinh doanh. Trong hoạt động ngân hàng cũng vậy, các NHTM cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm mục đích thu được lợi nhuận cho ngân hàng.
Tuy nhiên, kinh doanh ngân hàng mang nét đặc thù riêng, là lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước. Có thể nói, tình hình phát hành, lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến tổng thể nền kinh tế, hơn nữa, đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác. Do đó, một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thực thi Chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư. Mặt khác, để bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như để có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng, luôn đòi hỏi phải duy trì tính ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, bao gồm cả những ràng buộc về mặt kỹ thuật và về mặt tổ chức, có thể do các ngân hàng tự thiết lập hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước.
Như vậy, hoạt động kinh doanh của NHTM là việc các NHTM thực hiện cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng và Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Những điểm đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTM NHTM có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác trong nền kinh tế, chính những điểm khác biệt này giúp cho NHTM thể hiện được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ. Đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm, tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 mọi chủ thể trong nền kinh tế.
Do đó, khi những lĩnh vực có những biến động xấu hoặc bất thường thì hoạt động kinh doanh của NHTM sẽ gặp khó khăn, sẽ dẫn đến những thiệt hại cho nền kinh tế. Mặt khác, sản phẩm kinh doanh của NHTM là các dịch vụ gắn liền với sự chu chuyển trong nền kinh tế, đáp ứng các giao dịch phát sinh giữa các chủ thể mà các giao dịch này cần thiết sử dụng tiền để đo lường, tính toán giá trị, thanh toán… Cho nên hoạt động ngân hàng luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía Chính phủ nhằm ổn định tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính có thể xảy ra. Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Điều này có thể giúp cho ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn từ công chúng và sử dụng nguồn vốn này để cho vay.
Do đó, khi lòng tin của khách hàng đối với NHTM giảm sút thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong huy động vốn, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng sẽ không được thiết lập, đồng thời việc cung ứng các dịch vụ khác cũng gặp những khó khăn nhất định. Thứ ba, hoạt động kinh doanh của NHTM có thể xuất hiện rủi ro. Rủi ro trong kinh doanh của NHTM bao gồm: rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro hệ thống… Những rủi ro này có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM khi nền kinh tế biến động từ các yếu tố kinh tế, chính trị bất thường. Bản thân NHTM là một tổ chức đi vay để cho vay lại, khả năng thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc cung cầu vốn trên thị trường, khả năng huy động vốn của ngân hàng, khả năng trả nợ của người đi vay và năng lực quản trị ngân hàng… Mặt khác, khi sự biến động của lạm phát trong nền kinh tế nằm ngoài khả năng dự báo thì NHTM còn phải đối mặt với những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất… Thứ tư, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau.
Trong thực tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, khi có một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra một tác động lan truyền đến các NHTM khác. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự phụ thuộc và mức độ liên kết giữa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 các ngân hàng ngày càng cao, một NHTM phá sản có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng trong nước, khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, trong quá trình kinh doanh, các NHTM cạnh tranh với nhau nhằm khẳng định vị thế của mình trên thị trường, trên cơ sở cùng tồn tại chứ không triệt tiêu lẫn nhau. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 1.
Nghiệp vụ nguồn vốn Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM. Vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay, vốn khác. Vốn chủ sở hữu - Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, do chủ sở hữu ngân hàng góp vào khi thành lập ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng từ vốn góp thêm của chủ sở hữu và từ lợi nhuận của ngân hàng. - Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của NHTM, nhưng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHTM.
- Vốn chủ sở hữu là vốn không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên vốn chủ sở hữu là thành phần vốn có tính ổn định và thông thường được sử dụng cho mục đích dài hạn. Vốn huy động Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại công cụ nợ khác. - Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
Tuy nhiên, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc và lãi nên vốn huy động là thành phần vốn có tính biến động. Khi sử dụng nguồn vốn này, NHTM phải thiết lập dự trữ để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản. Vốn vay Vốn vay là vốn thuộc chủ sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế mà NHTM chủ động thỏa thuận sử dụng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh. NHTM có thể vay từ nhiều chủ thể khác nhau: vay từ các TCTD khác trong nước, vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài, vay từ Ngân hàng Trung ương.
Vốn khác Ngoài các nguồn vốn nêu trên, khi NHTM đi vào hoạt động tạo điều kiện phát sinh các nguồn vốn khác, chẳng hạn: - Vốn tài trợ, ủy thác từ các chủ thể trong và ngoài nước. - Vốn chiếm dụng phát sinh từ dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế, đại lý kiều hối… - Vốn điều hòa trong hệ thống NHTM điều tiết nguồn vốn từ chi nhánh thừa sang chi nhánh thiếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, cân đối vốn trong toàn bộ hệ thống NHTM, đảm bảo thanh khoản. Nghiệp vụ sử dụng vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt cho các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời góp phần mang lại thu nhập cho NHTM.