MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của chuyên đề Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, từ một nền sản xuất mang nặng tự cấp tự túc, thiếu lương thực triền miên trở thành một nước không chỉ đủ lương thực, thực phẩm đảm bảo cuộc sống cho nhân dân mà mỗi năm còn xuất khẩu hàng triệu tấn lương thực thực phẩm, thu về cho đất nước hàng tỷ USD. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi ngành kinh doanh lúa gạo cũng dần khẳng định vị thế của mình trong cơ cấu sản xuất của ngành nông nghiệp. Trong những năm qua kinh doanh lúa gạo phát triển khá mạnh.
Những năm gần đây kinh doanh lúa gạo đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng và của thị trường, đòi hỏi người phải mở rộng qui mô, đưa các giống năng suất cao, chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất. Thành Hưng là một xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa nước. Trong những năm qua kinh doanh lúa gạo đã góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho người lao động, khai thác được lợi thế so sánh của địa phương. Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh doanh lúa gạo của xã vẫn gặp những khó khăn bất cập cần được giải quyết đó là: kinh doanh vẫn mang tính nhỏ lẻ, qui mô nhỏ, năng suất lao động thấp sản phẩm lúa gạo còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ so với các ngành khác.
Để góp phần giải quyết tồn tại trên và tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh và có những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế từ lúa gạo tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoạt động kinh doanh lúa gạo tại xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá”. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động kinh doanh lúa gạo của xã tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh lúa gạo từ đó đề ra một số giải pháp thiết thực để nâng cao hoạt động kinh doanh lúa gạo ở địa phương cho người dân ở xã Thành Hưng. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về sự phát triển kinh doanh nói chung và kinh doanh lúa gạo nói riêng.
- Phân tích hoạt động kinh doanh lúa gạo và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh lúa gạo của xã. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh lúa gạo ở địa phương. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chuyên đề 1. Đối tượng nghiên cứu Là các hộ kinh doanh lúa gạo của xã Thành Hưng.
Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong các hộ kinh doanh lúa gạo ở xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá. Về thời gian: Số liệu tổng quan qua 3 năm 2009 – 2011. Về nội dung: Hoạt động kinh doanh lúa gạo tại xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá. Phương pháp sử dụng trong chuyên đề 14.
Phương pháp chọn điểm - Thành Hưng là một xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa nước và kinh doanh lúa gạo. Trong những năm qua ngành kinh doanh nói chung và ngành kinh doanh lúa gạo nói riêng đã góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho người lao động, 2 khai thác được lợi thế so sánh của địa phương. Tuy nhiên trong quá trình phát triển ngành kinh doanh lúa gạo của xã vẫn gặp những khó khăn bất cập cần được giải quyết đó là: kinh doanh vẫn mang tính nhỏ lẻ, qui mô nhỏ, năng suất lao động thấp sản phẩm lúa gạo còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ so với các ngành khác. Vì vậy chọn xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá là địa điểm để nghiên cứu Hoạt động kinh doanh lúa gạo.
Phương pháp thu thập số liệu. * Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập dựa vào tài liệu được công bố trên báo chí, tạp chí, sách chuyên ngành, niên giám thống kê qua các năm, thông tin truy cập trên mạng internet qua các Website. đồng thời số liệu này còn được thu thập từ các phòng ban của địa phương, các báo cáo thống kê công khai hàng năm và các tài liệu liên quan với nguồn thống kê qua 3 năm 2009 - 2011 * Số liệu sơ cấp: Là số liệu gốc được thu thập trực tiếp từ các hộ kinh doanh lúa gạo trên địa bàn xã bằng cách phỏng vấn, điều tra thông qua các phiếu điều tra. Phương pháp xử lý số liệu.
Sau khi thu thập được số liệu chúng tôi tiến hành kiểm tra đánh giá, điều tra bổ sung. Sau đó xử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu theo những nội dung đã được xác định. Trong quá trình đó, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích thống kê để hệ thống hoá số liệu thu thập theo những tiêu thức cần thiết, phù hợp logic với mục tiêu nghiên cứu. Phương pháp phân tích số liệu.
Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Là phương pháp cơ bản được sử dụng để phân tích số liệu. Bằng việc sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân. Kết hợp với việc so 3 sánh giữa các nhóm để phân tích, nêu nên mức độ của hiện tượng (quy mô, cơ cấu kinh doanh và năng suất sản phẩm. Phương pháp chuyên gia chuyên khảo: Trên cơ sở tham khảo ý kiến của một số người có kinh nghiệm đại diện trong lĩnh vực nghiên cứu như cán bộ lãnh đạo các doanh nghiệp có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, các hộ kinh doanh có quy mô lớn.
Để đánh giá hoạt động kinh doanh của xã. Phương pháp so sánh So sánh hoạt động kinh doanh trong kinh doanh lúa gạo theo các tiêu chí như hiệu quả kinh tế theo quy mô khác nhau, phương pháp kinh doanh khác nhau, so sánh hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ với các hộ kinh doanh có qui mô lớn. PHẦN II: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 2.1 Điều kiện tự nhiên 2.
Vị trí địa lý Thành Hưng là một xã thuộc huyện Thạch Thành, nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh hóa, cách trung tâm thành phố khoảng 60 km, có địa hình tương đối bằng. Xã Thành Hưng có vị trí địa lý: - Phía Đông giáp xã Thạch Long - Phía Nam giáp xã Thạch Đồng 4 - Phía Bắc giáp thị trấn Kim Tân - Phía Tây giáp xã Thành Tiến Với vị trí như trên, xã Thành Hưng có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai của xã tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển trồng lúa, không những đáp ứng đủ nhu cầu của người dân mà còn góp phần cung cấp lúa gạo cho sự phát triển ngành trồng lúa của của Thanh Hóa nói chung và Thành Hưng nói riêng. Địa hình thổ nhưỡng Xã Thành Hưng có 475,67 ha là trung du chiếm 84,88% diện tích đất tự nhiên và 84,74 ha là vùng núi chiếm 15,12% diện tích đất tự nhiên. Độ cao trung bình vùng núi từ 600 -700m, độ dốc trên 25 o; vùng trung du có độ cao trung bình 150 - 200m, độ dốc từ 15 -20o.
Thủy văn Thành Hưng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.200mm) Do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, xã đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. Dòng sông chính là sông Bưởi một nhánh của sông Mã. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của xã lên tới15 km, mật độ bình quân từ 5-6km/km2.
Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Ngoài hệ thống sông ngoài đê. Thành Hưng còn có hệ thống sông ngòi trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân. Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở xã rất phong phú.
Mật độ sông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ. Nguồn cung cấp hàng triệu m3 từ các con sông, cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn (hàng triệu tấn). Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng 5 tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở mọi nơi trong tỉnh. Các dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêu cho đồng ruộng thông qua hệ thống thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cống tự chảy.
Điều kiện kinh tế - xã hội 2. Đất đai - Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất Nông nghiệp. Vai trò của đất đai càng trở nên quan trọng hơn đối với những địa phương mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như ở xã Thành Hưng. Do vậy, việc sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế của xã.
Tình hình sử dụng đất đai của xã qua ba năm 2009 - 2011 đã được thể hiện qua bảng 1. - Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 560,4 ha trong đó đất Nông nghiệp 353,5 ha và hầu như không có sự thay đổi qua các năm. Tuy nhiên trong cơ cấu đất Nông nghiệp lại có sự thay đổi qua 3 năm. Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do có sự chuyển đổi một số diện tích đất trồng trọt sang làm trang trại, chăn nuôi, làm vườn, đào ao thả cá theo hướng dồn điền đổi thửa quy hoạch lại diện tích đất canh tác.
Mặc dù vậy, phần lớn đất Nông nghiệp vẫn được sử dụng để cấy lúa. - Các loại đất khác như đất chuyên dùng, đất thổ cư, đất chưa sử dụng có sự thay đổi nhỏ qua 3 năm. Cụ thể năm 2011 đất Nông nghiệp chiếm 63,03% đất chuyên dùng chiếm 24,37%, đất thổ cư chiếm 6,96% còn lại là đất chưa sử dụng. Trong cơ cấu đất Nông nghiệp từ năm 2009 - 2011 đã có xu hướng chuyển từ đất trồng lúa sang đất ao hồ, làm vườn, chăn nuôi theo mô hình trang trại và qua 3 năm đã chuyển đổi được 14,26 ha.
- Bình quân đất Nông nghiệp/Khẩu của xã là 0,071 ha và bình quân đất canh tác là 0,05 ha. Đây là một tỷ lệ khá cao so với các địa phương khác, tạo điều kiện để mở rộng phát triển sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp của địa phương.