CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và phân loại hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm liên quan đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doạnh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì hiệu quả kinh doanh là mục tiêu, là động lực mà các doanh nghiệp theo đuổi.
Tất cả mọi kế hoạch, phương pháp quản trị hay phương án kinh doanh đều đi đến mục tiêu làm sao để hiệu quả là cao nhất. Hiệu quả kinh doanh đã trở thành cụm từ phổ biến với các doanh nghiệp. Vậy hiệu quả kinh doanh được hiểu là gì? Khi đề cập đến phạm trù này, đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra những phát biểu khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Các nước tư bản đã đưa ra nhiều khái niệm về hiệu quả kinh doanh, du nhập về Việt Nam thì khái niệm được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất là khái niệm theo quan điểm của PGS.TS Phạm Công Đoàn (2012): “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh các lợi ích kinh tế - xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả kinh tế có vai trò, ý nghĩa quyết định” Đề tài khóa luận mà tác giả lựa chọn cũng theo khái niệm hiệu quả kinh doanh này. Khái niệm nâng cao hiệu quả kinh doanh Nâng cao hiệu quả kinh doanh là làm cho các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên thường xuyên và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực. Phân loại hiệu quả kinh doanh Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh, mỗi cách phân loại đều dựa trên những mục đích khác nhau và sẽ dựa trên những tiêu thức khác nhau để làm căn cứ phân loại hiệu quả kinh doanh. Khi doanh nghiệp đánh giá, phân tích hiệu quả kinh doanh, người ta có các cách phân loại sau: ❖ Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả, người ta chia ra thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
Hiệu quả tuyệt đối: Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho từng phương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó được tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả tương đối: Hiệu quả so sánh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. Nó được tính toán bằng công thức: 7 ❖ Căn cứ vào mục tiêu của doanh nghiệp, phân loại thành hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài Hiệu quả trước mắt: Hiệu quả trước mắt là hiệu quả thu được trong khoảng thời gian gần nhất, trong ngắn hạn Hiệu quả lâu dài: Hiệu quả lâu dài là hiệu quả thu được trong khoảng thời gian dài Doanh nghiệp cần phải xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp, kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài hoặc thiệt hại đến lợi ích lâu dài ❖ Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá người ta phân ra làm 2 loại là hiệu quả kinh tế - tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiệu quả kinh tế - tài chính: Hiệu quả kinh tế - tài chính của doanh nghiệp (hiệu quả kinh tế cá biệt) là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của từng doanh nghiệp kinh doanh.
Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu được. Hiệu quả kinh tế - xã hội Hiệu quả kinh tế - xã hội (hiệu quả kinh tế quốc dân) là sự đóng góp của chính doanh nghiệp vào xã hội nghĩa là mang lại các lợi ích công cộng cho xã hội như tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho ngân sách, tăng tích lũy ngoại tệ, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế. ❖ Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả king doanh, nguời ta phân ra làm hai loại: Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp Hiệu quả kinh tế tổng hợp là phạm trù kinh tế biểu hiện tập của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế tổng hợp là thước đo hết sức quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Hiệu quả kinh doanh bộ phận Hiệu quả kinh doanh bộ phận là sự thể hiện trình độ và khả năng sử dụng bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó là thước đo quan trọng của sự tăng trưởng từng bộ phận và cùng với hiệu quả kinh tế tổng hợp làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp. 8 Mặc dù có nhiều cách phân loại nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu bằng cách sử dụng cách phân loại theo hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận.
Một số lý thuyết về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh thì có nhiều quan điểm khác nhau. Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh: Quan điểm thứ nhất: Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá ”.
Theo quan điểm này, Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh. Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể được tăng lên do tăng chi phí sản xuất hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất.
Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp", (Kinh tế thông mại dịch vụ - Nhà xuất bản Thống kê 1998). Quan điểm này có u điểm là bám sát mục tiêu tinh thần của nhân dân. Những khó khăn ở đây là phương tiện đó nói chung và mức sống nói riêng là rất đa dạng và phong phú, nhiều hình nhiều vẻ phản ánh trong các chỉ tiêu mức độ thỏa mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống nhân dân. Quan điểm thứ ba: Theo quan điểm này “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí hay các yếu tố đầu vào bỏ ra để đạt được kết quả đó” (Kinh tế thông mại dịch vụ - Nhà xuất bản Thống kê 1998).
Ta có thể biểu diễn khái quát theo công thức: E = K/C, trong đó: E là hiệu quả kinh doanh. K là kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. C là chi phí hay các yếu tố đầu vào. Kết quả đạt được có thể đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp Còn yếu tố đầu vào bao gồm các nguồn lực tài sản, nguồn vốn, lao động được sử dụng trong kỳ kinh doanh.
Dựa trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đạt được với chi phí hay các yếu tố đầu vào, quan điểm này đã đánh giá được 9 tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực trong sự vận động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Và để phù hợp với mục đích nghiên cứu học tập thì đây cũng là quan điểm được em lựa chọn sử dụng làm cơ sở cho các nội dung được trình bày trong đề tài khóa luận của mình. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện, phản ánh rõ nhất qua chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp và chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận. Vì vậy, đề tài tập trung phân tích theo 2 chỉ tiêu này.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp a. Khả năng sinh lời so với doanh thu (ROS) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROS = 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Tỷ số này đo lường khả năng sinh lời so với doanh thu, cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí nhưng điều kiện để có hiệu quả là tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng doanh thu. Khả năng sinh lời của tài sản (ROA) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 ROA là hệ số cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ lượng vốn đầu tư, tức là cứ một đồng đầu tư vào tổng tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tài sản của một doanh nghiệp được hình thành từ nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. ROA càng cao càng tốt vì cho thấy doanh nghiệp đang kiếm được nhiều lợi nhuận từ tổng tài sản. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Hệ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra để tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Hầu hết các cổ đông hoặc các nhà đầu tư rất quan tâm đến hệ số này bởi nó gắn với lợi nhuận mà họ có thể nhận được.