Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT TRONG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về kiểm soát nội bộ và môi trường kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Theo các tác giả Jones và George (2003), kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát không có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã xảy ra mà còn giữ cho tổ chức hoạt động theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra.
Theo Từ điển tiếng Việt (1996), kiểm soát là xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ, kỷ luật không. Như vậy, có thể hiểu kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu, kế hoạch của tổ chức. Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu bao trùm của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối ưu. Để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp thường thiết kế những phương thức kiểm soát phù hợp thông qua việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Đó là hệ thống các cơ chế kiểm soát trong doanh nghiệp được cụ thể hoá bằng các quy chế quản lý do ban lãnh đạo ban hành nhằm giảm thiểu những rủi ro làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu của mình. Quy chế quản lý của doanh nghiệp là tất cả những tài liệu do cấp có thẩm quyền ban hành và yêu cầu các cá nhân, bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp phải tuân theo, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra. Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), kiểm soát nội bộ là tất cả các chính sách, thủ tục do nhà quản lý xây dựng, lựa chọn áp dụng để đảm bảo đạt được các mục tiêu quản trị và quản lý có hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trong đó có các chính sách về quản trị, về bảo vệ tài sản, về việc ngăn ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo sự phù hợp và toàn vẹn của sổ sách kế toán, đảm bảo sự tin cậy của các thông tin trên báo cáo tài chính.
5 Hội đồng Basel về giám sát hoạt động NH cho rằng kiểm soát nội bộ là một cơ chế được thiết lập và thực hiện nhằm giảm thiểu gian lận, sai sót, biển thủ tài sản… và nhằm vào tất cả các rủi ro mà NH đang phải đối mặt. Nó không đơn thuần chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện ở một thời điểm nào đó mà là một hoạt động liên tục diễn ra tại mọi cấp trong NH. Tóm lại, có thể hiểu kiểm soát nội bộ là một quá trình giám sát xuyên suốt và liên tục gắn liền với các hoạt động hàng ngày của một tổ chức, để đảm bảo tính hiệu quả cho các hoạt động, duy trì sự tuân thủ các quy định, quy chế và đảm bảo độ tin cậy của các thông tin tài chính trong tổ chức. Hệ thống kiểm soát nội bộ, theo IFAC, là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết kế nhằm bốn mục tiêu: - Bảo vệ tài sản của đơn vị: Tài sản của đơn vị gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình đều có thể bị mất, lạm dụng, sử dụng sai mục đích, bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp.
Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng,… - Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý. Như vậy các thông tin cung cấp có đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động, phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính thì mới đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của các quyết định quản lý hoặc các quyết định khác có liên quan đến tổ chức. - Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức. Cụ thể, hệ thống kiểm soát nội bộ cần: Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp; Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm trong 6 mọi hoạt động của doanh nghiệp; Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập Báo cáo tài chính trung thực và khách quan.
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý: Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp. Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hoà bốn mục tiêu trên.
Hệ thống kiểm soát nội bộ càng hoàn thiện hiệu quả của hoạt động kiểm soát càng cao. Tuy nhiên, mỗi hệ thống kiểm soát nội bộ dù hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Những hạn chế đó được xác định như sau: Ban Giám đốc thường yêu cầu lợi ích từ hệ thống kiểm soát phải cao hơn chi phí cho hệ thống đó nên những thủ tục kiểm soát tốn kém thường không được thực hiện; Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thường; Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự thông đồng của một người trong Ban Giám đốc hay một nhân viên với những người khác ở trong hay ngoài đơn vị; Khả năng những người chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình; Do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm. Như vậy, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị.
Vai trò kiểm soát nội bộ Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ là phương thức nhằm quản lý và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp. Rủi ro của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp không đạt mục tiêu của mình. Dựa vào nguồn gốc phát sinh, rủi ro của doanh nghiệp được chia làm 3 loại: Rủi ro kinh doanh (từ môi trường bên ngoài), đó là rủi ro từ sự thay đổi của luật pháp, tình hình phát triển kinh tế, lạm phát, đối thủ cạnh tranh, khách hàng, khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai, bão lũ và các nhân tố môi trường khác. Đây là những rủi ro xuất phát từ phía ngoài, tự bản thân doanh nghiệp không thể kiểm soát hết được loại rủi ro này và tất yếu ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp chịu ảnh hưởng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Rủi ro hoạt động (từ hoạt động nội bộ) là rủi ro xảy ra khi bộ máy cồng kềnh, bỏ sót lĩnh vực cần phải kiểm soát, do đội ngũ nguồn nhân lực kém năng lực, không trung thực, bộ máy kế toán làm việc sai chế độ, làm thất thoát tài sản, … Như vậy, từ khi doanh nghiệp ra đời đến khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, rủi ro này luôn tồn tại. Đây là những rủi ro mà doanh nghiệp hoàn toàn có điều kiện để hiểu và chủ động thực thi các biện pháp kiểm soát loại rủi ro này. Rủi ro tuân thủ (từ việc tuân thủ pháp luật) xảy ra khi doanh nghiệp hoạt động không tuân thủ pháp luật, không tuân thủ thực hiện những cam kết, thoả thuận đã tham gia ký kết. Khi thực hiện hoạt động kinh doanh nếu doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật sẽ bị cưỡng chế phải tuân thủ hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động.
Doanh nghiệp chấp nhận hoạt động kinh doanh là chấp nhận rủi ro. Mưu cầu mức lợi nhuận càng cao, rủi ro sẽ càng lớn và ngược lại. Nếu không muốn đối đầu với bất kỳ rủi ro nào, doanh nghiệp chỉ có một cách duy nhất là không hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp còn hoạt động là còn phải tìm cách đối phó với rủi ro.
Nếu doanh nghiệp chọn cách tự chấp nhận rủi ro, đồng nghĩa với doanh nghiệp không thực hiện bất kỳ phương án nào nhằm mục tiêu giảm thiểu rủi ro thì khi xảy ra rủi ro, doanh nghiệp sẽ tiến hành xử lý tổn thất. Không phải rủi ro nào mức độ tổn thất của nó cũng có thể xử lý và chấp nhận được. Có những thiệt hại xảy ra có 8 thể đưa doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Đây chưa phải là sự lựa chọn tối ưu của các doanh nghiệp.
Chuyển giao rủi ro là biện pháp rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Chuyển giao rủi ro là việc doanh nghiệp chuyển việc bồi thường tổn thất, khắc phục thiệt hại cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Thay vào đó, doanh nghiệp thực hiện trả tiền phí cho đơn vị bảo hiểm. Tuy nhiên doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện bảo hiểm cho mọi rủi ro mà chỉ thực hiện bảo hiểm cho những rủi ro xảy ra do nguyên nhân khách quan, tự doanh nghiệp không thể kiểm soát được.