Chương 1: Giới thiệu; Chương 2: – ; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả áp dụng phương pháp và nhận xét; Chương 5: Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ V – T SẢN XUẤT NHỰA TRÊN ĐỊA BÀN TP.1 , phân loại chi phí và giá thành Khái niệm chi phí: Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần các yếu tố đầu vào - chi phí. Chi phí bao gồm rất nhiều khoản khác nhau như chi phí về nguyên vật liệu, chi phí về nhân công, chi phí về khấu hao tài sản cố định. Một cách tổng quát, chi phí là toàn bộ hao phí doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động.
Chi phí có các đặc điểm: vận động, thay đổi không ngừng; mang tính đa dạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng, phức tạp của ngành nghề sản xuất, quy trình sản xuất. Đối với người quản lý, chi phí là một trong những mối quan tâm hàng đầu vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những chi phí đã chi ra, chi phí còn được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý. Khái niệm giá thành: Giá thành sản ph là biểu hiện bằng tiền của những chi phí sản xuất gắn liền với một kết quả sản xuất nhất định. Như vậy, giá thành sản phẩm là.
Giá thành được xem là thước đo mức chi phí tiêu hao phải bù đắp sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, là một công cụ quan trọng để doanh nghiệp kiểm soát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, giá thành cùng với chất lượng sản ph m luôn là hai vấn đề được quan tâm của các nhà sản xuất.2 Phân loại Phân loại chi phí: Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân chia chi phí thành nhiều loại khác nhau phục vụ cho yêu cầu quản lý doanh nghiệp, quản lý chi phí và kiểm soát phí. Sự phân loại chi phí phụ thuộc vào hình thức và mục tiêu của hệ thống thông tin trong nội bộ doanh nghiệp. a/ Phân loại chi phí theo Theo tiêu thức phân loại này, toàn bộ chi phí của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau: Chi phí nguyên vật liệu; Chi phí nhân công; Chi phí khấu hao tài sản cố định; Chi phí dịch vụ mua ngoài; Chi phí khác bằng tiền.
Từng loại chi phí được nêu ra ở đây không thể hiện được quan hệ giữa nó với quá trình sản xuất cũng như kết quả sản xuất. Cách phân loại chi phí này có tác dụng giải trình kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán, được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp. Phân loại chi phí theo cách này có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí, nó cho biết nguồn gốc, nguyên nhân phát sinh chi phí và kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí, lập kế hoạch cung cấp vật tư, quỹ lương, tính toán yêu cầu vốn cần cho sản xuất kinh doanh.
b/ Phân loại chi phí theo các Mục tiêu của việc phân loại chi phí theo chức năng họat động (mục ) giúp tập hợp chi phí, xác định giá thành sản ph m, lập báo cáo tài chính, qua đó cũng thấy được chi phí gắn liền với chức năng họat động của doanh nghiệp. Toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại: b1. Chi phí sản xuất: là những chi phí liên quan đến quá trình chế tạo sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ph m trong một thời kỳ nhất định như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp: bao gôm tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản trích theo lương và các khoản phải trả khác được tính vào chi phí theo quy định cho công nhân trực tiếp chế tạo ra sản ph m. Chi phí nhân công trực tiếp có thể xác định rõ ràng, cụ thể và tách biệt cho từng đối tượng chịu phí. Chi phí sử dụng máy thi công: là các khoản chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công như: chi phí tiền lương, phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển; chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu phục vụ máy thi công; chi phí khấu hao; chi phí thuê sửa máy thi công và các chi phí khác bằng tiền phục vụ vận hành sử dụng máy thi công. Chi phí máy thi công không bao gồm khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định của công nhân điều khiển máy, khoản này được tính vào chi phí sản xuất chung.
Chi phí sử dụng máy thi công phát sinh ở các doanh nghiệp xây lắp. Chi phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết khác để sản xuất ra sản ph m ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhưng có cùng tính chất như: chi phí nguyên vật liệu và công cụ dùng ở phân xưởng, chi phí lương nhân viên gián tiếp ở phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa bảo trì máy móc sử dụng trong sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác dùng ở phân xưởng. Phân loại chi phí như trên giúp cho việc dự toán được các khoản mục chi phí trọng yếu trong chi phí sản xuất, cung cấp số liệu cho công tác xây dựng định mức chi phí, phân tích biến động chi phí nhằm mục đích kiểm soát phí.
Chi phí ngoài sản xuất: là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản ph m và quản lý chung toàn doanh nghiệp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chi phí bán hàng: là toàn bộ những chi phí phát sinh cần thiết để tiêu thụ sản ph m, hàng hóa; bao gồm các khoản chi phí như: vận chuyển, bốc vác, bao bì, chi phí quảng cáo, lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, khấu hao tài sản cố định và những chi phí liên quan đến dự trữ, bảo quản sản ph m, hàng hóa,… Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ những chi phí chi ra cho việc tổ chức và quản lý trong toàn doanh nghiệp. Đó là những chi phí hành chính, kế toán, quản lý chung, chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí tài chính, … Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động giúp cho việc quản lý chi phí được chặt chẽ và tính giá thành sản ph m một cách chính xác. Tạo cơ sở cho việc tổ chức theo dõi, kiểm tra, kiểm soát chi phí một cách chặt chẽ hơn và dễ dàng đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh chi phí bỏ ra với kết quả thực hiện được của từng bộ phận.
c/ Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định c1. Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản ph m hay quá trình mua hàng hóa. Chi phí sản ph m được xem là gắn liền với từng đơn vị sản ph m, hàng hóa khi chúng được sản xuất ra hoặc được mua vào, tồn kho chờ bán và khi sản ph m hàng hóa được tiêu thụ thì mới trở thành phí tổn để xác định. Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh trong kỳ sản xuất kinh doamh, có ảnh hưởng đến lợi nhuận của kỳ chúng phát sinh.
Chi phí thời kỳ có liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều sản ph m khác nhau. Chi phí thời kỳ bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Phân loại chi phí như trên có tác dụng tích cực trong việc xác định chính xác giá thành sản ph m, tính đúng hao phí cần bù đắp và xác định kết quả kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định. d/ Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: Theo cách phân loại này chi phí được chia thành: Chi phí trực tiếp – Chi phí gián tiếp.
Chi phí trực tiếp: là chi phí có thể tách biệt, phát sinh một cách riêng biệt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 , hợp đồng cung cấp dịch vụ, phân xuởng, khu vực,…Chi phí trực tiếp sẽ không xác định được nếu không có đối tượng chịu phí. Chi phí gián tiếp: là chi phí chung hay chi phí kết hợp, không có liên quan đến một hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng một lúc đến nhiều hoạt động. Vì vậy, để xác định chi phí gián tiếp của một hoạt động cụ thể phải áp dụng phương pháp phân bổ. Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách chính xác, hợp lý.
e/ Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí Cách phân loại này căn cứ vào sự thay đổi của chi phí khi có sự thay đổi của mức độ hoạt động kinh doanh, theo cách phân loại này chi phí được chia thành 3 loại: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Biến phí: là những khoản chi phí thay đổi theo quy mô sản xuất ví dụ như lao động, nguyên vật liệu, chi phí hoa hồng,. Biến phí quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động. Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động sản xuất kinh doanh, khi không hoạt động biến phí b ng không.
Định phí: là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức họat động thay đổi trong phạm vi phù hợp. Phạm vi phù hợp là phạm vi giữa khối lượng sản ph m tối thiểu và khối lượng sản ph m tối đa mà doanh nghiệp dự định sản xuất. Định phí tỷ lệ nghịch với với mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh càng cao thì định phí cho 1 đơn vị sản ph m càng thấp. Định phí có 2 đặc điểm: + Tổng định phí giữ nguyên khi sản lượng thay đổi trong phạm vi phù hợp.