phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì khóa luận thực tập tốt nghiệp gồm ba chương: Chƣơng 1: Những lí luận cơ bản về NHTM và hiệu quả huy động vốn của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu, chi nhánh Thanh Hóa Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu, chi nhánhThanh Hóa SVTH: Lê Thị Bình 3 Lớp: K14B – Tài chính Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Thanh Giang CHƢƠNG 1 : NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHTM VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại (NHTM) 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Để đƣa ra đƣợc một định nghĩa về ngân hàng thƣơng mại, ngƣời ta thƣờng phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tƣợng hoạt động.Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM. Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm.” Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo Luật của các TCTD tại Việt Nam:“Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán”. “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhƣng khi phân tích khai thác nội dung của các định nghĩa đó, ngƣời ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là: việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. SVTH: Lê Thị Bình 4 Lớp: K14B – Tài chính Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phạm Thị Thanh Giang 1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền và ngƣời đi vay,. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thƣơng mại.
- Chức năng trung gian thanh toán Ở đây ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,.Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi mà vẫn có thể thanh toán ở bất cứ đâu, do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và SVTH: Lê Thị Bình 5 Lớp: K14B – Tài chính Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Thanh Giang phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính chất đặc thù của mình đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vạy ra lịa đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản TGTT của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thƣơng mại tạo tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy, NHTW có thể tăng tỷ lệ này khi lƣợng cung tiền vào nền kinh tế lớn.3 Vai trò của ngân hàng thương mại - Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trƣờng các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế muốn sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tƣ mua sắm tƣ liệu sản xuất, phƣơng tiện sản xuất kinh doanh…vv mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài.
Mặt khác lại có một nguồn vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích lũy của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác. NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trƣờng, giúp cho các nhà kinh doanh trong xây dựng chiến lƣợc quản lý trong doanh nghiệp. SVTH: Lê Thị Bình 6 Lớp: K14B – Tài chính Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Thanh Giang Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động của các doanh nghiệp nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế nhƣ: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, thoả mãn nhu cầu thị trƣờng về mọi phƣơng diện không chỉ: giá cả, khối lƣợng, chất lƣợng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phƣơng diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trƣờng doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lƣợng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đƣa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp.
Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lƣợng vốn đầu tƣ lớn, nhiều khi vƣợt quá khả năng của doanh nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tƣ của mình.Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trƣờng. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. - Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lƣợng tiền cung ứng cho lƣu thông. Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trƣờng, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ quan trọng để nhà nƣớc điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
SVTH: Lê Thị Bình 7 Lớp: K14B – Tài chính Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Thanh Giang Khi nhà nƣớc muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM luôn đƣợc sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ƣu đãi trong đầu tƣ, sử dụng vốn nhƣ: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc thông qua hệ thống NHTM Nhà nƣớc cấp vốn ƣu đãi cho các lĩnh vực nhất định. Khi nền kinh tế tăng trƣởng quá mức nhà nƣớc thông qua NHTƢ thực hiện chính sách tiền tệ nhƣ: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc. Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thƣờng đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thƣờng đƣợc nhà nƣớc sử dụng.
- Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.