lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về vốn huy động và hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng Thƣơng Mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Agribank Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN HUY ĐỘNG, HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu, liên quan đến đề tài nghiên cứu một số công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại, do NHTM có một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng, đặc biệt là hoạt động huy động vốn của NHTM nên hoạt động huy động vốn của NHTM đựơc rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam có Luận án tiền sỹ của tác giả Tô Ngọc Hƣng: “Những giải pháp tạo vốn của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng”.
Luận án đã nghiên cứu khá toàn diện về các hình thức tạo vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng, trong đó đi sâu vào nghiên cứu việc tạo vốn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Đề tài luận văn thạc sỹ “Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Lan Phƣơng, 2010; Luận văn thạc sỹ “ Nâng cao hiệu quả quản lý huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Đặng Văn Du, 2013; Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng công thƣơng chi nhánh Hai Bà Trƣng” của tác giả Phạm Thanh Thanh, 2010. Trong mỗi công trình trên các tác giả đã đƣa ra đƣợc các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn, 5 tăng cƣờng quản lý vốn tại các NHTM nói chung và tại các Ngân hàng mà tác giả lựa chọn. Trong mỗi thời kỳ và trên mỗi địa bàn hoạt động kinh doanh có những thay đổi khách nhau đòi hỏi mỗi ngân hàng cần có chiến lƣợc kinh doanh của riêng mình phù hợp với mỗi thời kỳ và phù hợp với thực tế kinh doanh của riêng mình.
Thị trƣờng luôn luôn biến động do đó tâm lý và chiến lƣợc của các đối tƣợng tham gia trên thì trƣờng cũng luôn luôn biến động phù hợp với tình hình biến động của thị trƣờng, đặc biệt là thị trƣờng tiền tệ là một thị trƣờng vô cùng nhạy cảm với những biến động trên thị trƣờng. Chính vì vậy, trên cơ sở những biến động của môi trƣờng kinh doanh gần đây đặc biệt là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, căn cứ vào những nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc, tác giả lựa chọn đề tài: “Huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt”. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về vốn và vốn huy động của ngân hàng thƣơng mại “Vốn của NHTM là toàn bộ những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Các thành phần vốn của NHTM bao gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận và vốn khác, cụ thể nhƣ sau”(PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Tr43): - Vốn tự có của ngân hàng là vốn khởi đầu do ngân hàng tạo lập, thuộc sở hữu ngân hàng và đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động. Vốn này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của NHTM song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc 6 khi thành lập một ngân hàng. Vốn tự có mang tính ổn định và là căn cứ để quyết định đến khả năng và khối lƣợng vốn huy động của ngân hàng.
Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thƣởng phúc lợi, lợi nhuận để lại… - Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đƣợc từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và đƣợc dùng làm vốn để kinh doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối với hoạt động của ngân hàng. - Vốn đi vay là phần vốn các ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt động của mình trong trƣờng hợp tạm thiếu vốn khả dụng.
Nó có chi phí tƣơng đối cao nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của ngân hàng. NHTM có thể vay vốn của các chủ thể nhƣ vay NHNN dƣới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá; vay lại theo hợp đồng tín dụng, vay của các NHTM khác qua thị trƣờng liên ngân hàng, hợp đồng mua lại, vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… - Vốn tiếp nhận: đây là vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nƣớc… để tài trợ theo các chƣơng trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… vốn này chỉ đƣợc sử dụng theo đúng đối tƣợng và mục tiêu đã xác định. - Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhƣ tiền ký quỹ, bảo lãnh… Trong các hoạt động của NHTM, hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng nhất đối với hoạt động của các ngân 7 hàng thƣơng mại. Theo Luật các TCTD hoạt động huy động vốn của các NHTM bao gồm các hoạt động nhƣ nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và của Ngân hàng Nhà nƣớc: - Nhận tiền gửi: Ngân hàng đƣợc nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân, và các TCTD khác dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
TCTD phi ngân hàng đƣợc nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. - Phát hành giấy tờ có giá: Khi đƣợc Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận, TCTD đƣợc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nƣớc và ngoài nƣớc. - Vay vốn giữa các TCTD: Các TCTD đƣợc vay vốn của nhau và của TCTD nƣớc ngoài. - Vay vốn của Ngân hàng Nhà nƣớc: TCTD là ngân hàng đƣợc vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nƣớc dƣới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại Điều 30 của Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam 1997.
Phân loại vốn huy động của ngân hàng thƣơng mại Tùy theo từng tiêu chí, mục đích huy động khác nhau mà các NHTM có các cách phân loại vốn huy động khác nhau. Cụ thể nhƣ sau: 1. Phân theo loại vốn huy động *Huy động vốn tiền gửi Tiền gửi phân loại theo kỳ hạn bao gồm: - Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch): Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng. Do mục đích của khách hàng không phải để hƣởng lợi tức 8 mà để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng nên ngân hàng thƣờng phải trả khách hàng với lãi suất rất thấp.
Ngƣời sở hữu chủ yếu đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn thƣờng là các doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu chi trả thƣờng xuyên và thuộc về vốn lƣu động của doanh nghiệp. Các cá nhân và các hộ gia đình thƣờng chiếm phần ít hơn trong tổng tiền gửi không kỳ hạn trên bảng cân đối của ngân hàng. Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm hai loại nhƣ sau: + Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt nhƣ: séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi… Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán.
Đứng trên góc độ ngân hàng, đây là tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. + Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Là các khoản tiền đƣợc ký gửi dƣới mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần thanh toán, khách hàng có thể đến ngân hàng để chi tiêu. Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và đƣợc phép sử dụng tồn khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng mà khách hàng chƣa có nhu cầu sử dụng đến trong một khoảng thời gian nhất định. Phần lớn nguồn tiền gửi này xuất phát từ nguồn tiền tích lũy của các khách hàng mà có. Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền gửi 9 tƣơng đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn nguồn tiền này vào kinh doanh.
Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa các loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. - Tiền gửi tiết kiệm: Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của dân cƣ chƣa sử dụng cho tiêu dùng. Các tầng lớp dân cƣ đều có các khoản thu nhập tạm thời chƣa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm).