Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả của hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoản 1. Khái quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 121/2020/TT-BTC, công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: ° Môi giới chứng khoán ° Tự doanh chứng khoán; ° Bảo lãnh phát hành chứng khoản; ° Tư vấn đầu tư chứng khoán. ° Và một số loại nghiệp vụ khác Công ty chứng khoán chỉ được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán khi được cấp phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
Công ty chứng khoán chỉ được cấp phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hảnh chứng khoán khi được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. Như vậy, để có thê kính doanh dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán phải được cấp phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán và nghiệp vụ tự doanh chứng khoán trước tiên. Đặc điểm của công ty chứng khoán ° Loại hình tổ chức CTCK là một định chế tài chính làm trung gian giao dịch, thanh toán, trung gian thông tin, trung gian đun vốn vả tạo thanh khoản trên TTCK. v Viê pNam, CTCK chỉ được tô chức dưới đạng công ty cô phần hoăqœcông ty trách nhiêm hữu hạn.
e Loại hình kinh doanh CTCK thuộc loại hình kinh đoanh có điều kiện, tức là để có thê tiễn hành một hoặc một số các hoạt động trên thị trường chứng khoán, CTCK phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp qui định cũng như những nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khoán. Điều kiện nảy chính là những đặc điểm khác biệt giữa hoạt động của CTCK với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Điều kiện nay bao gồm: > Điều kiện về vốn: việc góp vốn điều lệ vào công ty chứng khoán phải bằng Đồng Việt Nam; công ty chứng khoán phải đáp ứng vốn điều lệ tối thiêu cho từng nghiệp vụ kinh đoanh cụ thê của công ty chứng khoán như sau: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Tư vẫn đầu tư: 10 tỷ đồng Tự doanh chứng khoán: 100 tý đồng Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng >_ Điều kiện về nhân sự: TTCK là kênh đầu tư có mức sinh lời lớn đi kxm theo đó là mức đô prủi ro cao với nhiều nghiệ gụ phức tạp và lượng thông tin công bồ rất lớn nên yêu cầu đối với nhân viên của CTCK phải là người có trình đô pcó đạo đức nghề nehiêtp và phải có chứng chỉ hảnh nghề. Đề có chứng chỉ hành nghề cần phải có đủ các chứng chỉ chuyên môn chứng khoán và trải qua ky thi sát hạnh cấp chứng chỉ hành nghề do UBCKNN tổ chức.
> Điều kiện về cơ sở vật chất: Có trụ sở làm việc bảo đảm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán; Có đủ cơ sở vật chất, ky thuật, trang bị, thiết bị văn phòng, hệ thống công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh đoanh chứng khoán e Mức đô phuyên môn hóa CTCK có trình đôp chuyên môn hóa rất cao ở từng phòng ban, bô p phâp đơn vị kinh doanh. Trong đó có các phòng ban có thê hoạt đômg đôplâp và không phụ thuôplun nhau như môi giới và tự doanh chứng khoán. e San phẩm và dịch vụ Không giống như nhiều loại hình kinh doanh khác có các sản phẩm va dich vu dip trưng, thâm chí có bản quyền sản phâm hoăqœbản quyền sở hữu trí tuê phi san pham va dịch vụ các CTCK cung cấp tương đối giống nhau, thường chỉ có sự khác nhau về môfp số quy trình vâphảnh, mức phí và năng lực phục vụ của đôïjngũ nhân viên. Đây chính là môtptrong những lý do CTCK rất chú trọng đến chất lượng dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh.
° Xung đột lợi ích giữa quyền lợi khách hàng và công ty chứng khoán Trên TTCK, CTCK vừa đóng vai trò làm trung gian thực hiệp mua bản giữa các nhà đầu tư thông qua dịch vụ môi giới chứng khoán mătpkhác thông qua hoạt đông tự doanh CTCK cũng là môpnhà đầu tư trên thị trường. Chính vì vâpbên cạnh mục tiêu chính là cung cấp các dịch vụ tôi ưu nhất cho khách hàng thì đôi khi giữa CTCK và khách hàng có phát sinh các xung détpvé loi ich. Chang han truong hop CTCK va khách hàng cùng mua vào môtpmã chứng khoán dun đến có sự cạnh tranh về lênh giao dịch hoăpCTCK giao địch môfố lượng lớn cô phiếu có thê dun đến những biến đôi giá trái chiều với vị thế đang nắm giữ của khách hàng. Chức năng của công ty chứng khoán ° Đối với doanh nghiệp Mục đích của doanh nghiệp khi tham gia vảo thị trường chứng khoán là huy động vốn thông qua phát hảnh cô phiếu.
Do đó, thông qua thị trường chứng khoán sẽ giúp doanh nghiệp đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, tránh được các khoản vay với lãi suất cao từ ngân hàng. Đồng thời, giúp doanh nghiệp thu hút thêm nguồn vốn trên thi trường quốc tế, mở rộng cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước. Trong các thương vụ phát hành cô phiếu của đoanh nghiệp, công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian huy động vốn cho doanh nghiệp thông qua hoạt động tư vẫn, bảo lãnh phát hành chứng khoán, giúp các giao dịch mua bán diễn ra thuận lợi. e Đối với cá nhân là nhả đầu tư Dé co thé giao dich trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư phải có tải khoản giao dịch chứng khoán mở tại các công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán thông qua hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư sẽ đóng vai trò làm cầu nối giao dịch giữa các nha dau tu. Công ty chứng khoán cũng là kênh cung cấp nguồn thông tin hữu ích bao gồm báo cáo phân tích thị trường, phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp,. để nhà đầu tư có những nhận định riêng chính xác hơn, tìm kiếm cơ hội đầu tư hiệu quả. Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ môi giới chứng khoản, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đề tư, Công ty chứng khoán đóng vai trò làm giảm chị phí, thời gian giao dịch, đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư của các cá nhân khi tham gia thị trường.
> Doi voi thị trường Tạo lập giá cả: Giá chứng khoán là do thị trường quyết định. Công ty chứng khoán thành viên của thị trường, góp phân tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhả phát hành đưa ra mức giá đầu tiên, vì vậy giá của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán. Tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: Công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường, vì thế công ty chứng khoán góp phần giúp cho các tải san tai chính có tính thanh khoản cao hơn, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyên thời hạn vốn phủ hợp của các tài sản tài chính.
Tạo ra sản phẩm vả dịch vụ mới trên thị trường: công ty chứng khoán sẽ biết được nhụ cầu của khách hảng khi cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán 4 vẫn đầu 4 chứng khoán, sau đó phản ánh đến bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm của công ty. Từ đó, các sản phẩm, dịch vụ mới được ra đời nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. e Đôi với cơ quan quản lý Các cơ quan quản lý phải có chức năng quan sát thị trường chứng khoán và thực hiện những điều chỉnh hợp lý tuân theo các quy định hiện hành của Luật chứng khoán và những cơ quan Nhà nước. Các hoạt động nảy của cơ quan quản lý một phần dựa vảo những thông tin về thị trường chứng khoán được cung cấp bởi những công ty chứng 10 khoán.
Các thông tin được công ty chứng khoán cung cấp có thể là thông tin về các cô phiếu, thông tin giao dịch, cổ tức, đữ liệu về ngành vả doanh nghiệp. Công ty chứng khoán sẽ phải kết hợp với các cơ quan quản lý đề hạn chế hoặc ngăn chặn các hành vi sai trái trên thị trường chứng khoán đo những cá nhân hoặc tô chức có thê gây ra. e Đối với nền kinh tế Thị trường chứng khoán về triển vọng của nền kinh tế trong giai đoạn sắp tới, theo phân tích thì thị trường chứng khoán đi trước thay đôi của nền kinh tế 6 tháng. Khi giá chứng khoán tăng thì nền kinh tế phát triển và ngược lại, giá chứng khoán giảm là sự báo sớm cho những rủi ro của nền kinh tế trong tương lai 1.
Các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán e Tự doanh chứng khoán Theo Khoản 30, Điều 4, Luật Chứng khoán năm 2019: "Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán cho chính mình". Tự doanh chứng khoán là hoạt động mà các công ty chứng khoán đóng vai trò như một nhà đầu tư trên thị trường, tiến hành các giao dịch mua mã chứng khoán cho chính công ty mình thông qua cơ chế khớp lệnh, trên các sản chứng khoán hoặc các thị trường phi tập trung. Các công ty chứng khoán đều có bộ phận riêng: bộ phận đầu tư cổ phiếu - equity trading desk, dau tu trai phiéu — bond trading va dau tu chimg khoan phai sinh — deprivatives trading desk đề thực hiện hoạt động tự doanh. Thu nhập từ hoạt động tự doanh đến từ chênh lệch giá mua và bán, cô tức hay tiền lãi mà tô chức phát hành trả.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện ở cả thị trường tự do OTC va cả san giao dịch. > Trên thị trường OTC, hoạt động tự doanh chứng khoản có thể được thực hiện dưới phương thức giao dịch I-1 giữa 2 CTCK hoặc giữa CTCK và một khách hàng thông qua việc thương lượng trao đôi. Đối tượng giao dịch là các loại chứng khoán đã được đăng ký giao dịch trên san OTC. > Sản giao dịch: Hoạt động tự doanh sẽ được tiến hành như hoạt động của nhà đầu tư thông thường.
Công ty chứng khoán đặt lệnh mua bán, giao dịch, lệnh đặt có thé khớp với khách hàng bất ky mà không cần xác định trước.