1 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG VÀ GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM 1.1 Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo khoản 1, điều 3 Thông tư 44/2011/TT-NHNN về Quy định hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có giải thích: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.” Hình 1: Hệ thống Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 2 1.2 Các nội dung của Hệ thống Kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng bao gồm một tập hợp các biện pháp xử lý của Ban Quản lý nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của Ngân hàng, quản lý chính xác các khoản mục tài sản và nợ phải trả một cách trung thực và hợp lý. Hệ thống Kiểm soát nội bộ bao gồm 5 cấu phần cụ thể là: - Môi trường kiểm soát - Hệ thống quản lý và đánh giá rủi ro - Hoạt động kiểm soát - Hệ thống thông tin và cơ chế trao đổi thông tin - Cơ chế giám sát hoạt động kiểm soát. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho toàn bộ các cấu phần của Hệ thống Kiểm soát nội bộ, bao gồm cơ cấu tổ chức, cơ chế phân cấp, phân quyền, các chính sách, thông lệ về nguồn nhân lực, đạo đức nghề nghiệp, năng lực, cách thức quản trị, điều hành của các cấp lãnh đạo. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát: (i) Đặc thù về quản lý; (ii) Cơ cấu tổ chức; (iii) Chính sách nhân sự; (iv) Công tác kế hoạch; (v) Ủy ban kiểm soát; (vi) Môi trường bên ngoài; Như vậy, môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ những nhân tố ảnh hưởng đến Hệ thống Kiểm soát nội bộ.
Hệ thống quản lý và đánh giá rủi ro là quy trình định dạng và phân tích mọi rủi ro liên quan đến việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức tín dụng, cụ thể bao gồm: (i) Việc xác định mục tiêu; (ii) Mức độ phù hợp của các mục tiêu; (iii) Việc định dạng các rủi ro liên quan; 3 (iv) Đánh giá rủi ro; (v) Các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro. Hoạt động kiểm soát là các chính sách, quy trình, thông lệ được xây dựng nhằm đảm bảo thực hiện các kế hoạch, các yêu cầu do các cấp quản lý điều hành đặt ra và các quy trình giảm thiểu rủi ro liên quan. Hệ thống thông tin và cơ chế trao đổi thông tin là hệ thống hỗ trợ toàn bộ các cấu phần của Hệ thống Kiểm soát nội bộ thông qua việc đảm bảo các thông tin được nắm bắt đầy đủ và kịp thời trong toàn Ngân hàng. Cơ chế giám sát hoạt động kiểm soát là quá trình đánh giá chất lượng của Hệ thống Kiểm soát nội bộ do Tổng Giám đốc/Giám đốc ngân hàng tổ chức thực hiện và do Bộ phận Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng và/hoặc tổ chức Kiểm toán độc lập bên ngoài thực hiện.3 Vị trí của kiểm toán nội bộ trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ Theo IIA – Viện Kiểm toán nội bộ tại Mỹ định nghĩa “Kiểm toán nội bộ là các hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó, giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro”.
Nói cách khác, kiểm toán nội bộ là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những yếu điểm của hệ thống quản lý doanh nghiệp. Nhờ nó mà Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người. Kiểm toán nội bộ giống như tai, mắt cho Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, điều này giúp tăng thêm niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị doanh nghiệp. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, các công ty có kiểm toán nội bộ thì thường khả năng gian lận thấp và hiệu quả hoạt động kinh doanh cao hơn.
Một số công ty có Bộ phận Kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ được tuân thủ. Kiểm toán nội bộ không được là 4 thành viên của Phòng Kế toán, bởi vì các biện pháp kiểm soát nội bộ cũng áp dụng cho cả Phòng Kế toán. Cụ thể Bộ phận Kiểm toán nội bộ sẽ thực hiện những công việc như sau: - Kiểm tra việc tuân thủ các chính sách và quy trình kế toán cũng như việc đánh giá tính chính xác và hợp lý của báo cáo tài chính và báo cáo quản trị; - Xác định được các rủi ro, các vấn đề và nguồn gốc của việc kém hiệu quả và xây dựng kế hoạch giảm thiểu những điều này. Kiểm toán nội bộ báo cáo trực tiếp lên Tổng Giám đốc hoặc Hội đồng quản trị.
Do đó, với một Kiểm toán nội bộ làm việc hiệu quả thì Hệ thống Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng sẽ liên tục được kiểm tra và hoàn thiện.2 Tổ chức hệ thống kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại 1.1 Bản chất của kiểm toán nội bộ Ở Việt Nam, mặc dù luật pháp quy định bắt buộc đối với các Doanh nghiệp Nhà nước, trong đó các NHTM Việt Nam phải có hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ. Nhưng do những bất cập của các quy định pháp luật như đã nêu về mô hình tổ chức không phù hợp với thông lệ quốc tế, do nhận thức chưa đầy đủ về sự cần thiết, những lợi ích của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ nên chất lượng hoạt động của công tác này trong các Ngân hàng Quốc doanh nói chung và trong các NHTMCP Việt Nam nói riêng rất kém hiệu quả. Cụ thể những yếu kém đó được thể hiện như sau: - Chức năng kiểm soát nội bộ bị đồng nhất với chức năng kiểm toán nội bộ; - Chưa phân định rõ trách nhiệm giữa cấp lãnh đạo đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; - Công tác tự đánh giá đối với hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được thực hiện và bị xem nhẹ; 5 - Hơn nữa, công tác đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của kiểm toán nội bộ không đảm bảo tính độc lập, khách quan, dẫn đến kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong suốt thời gian qua mới chỉ dừng lại ở công tác hậu kiểm, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hiện có.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán nội bộ Theo điều 8 thông tư 44 quy định về Hệ thống Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nói rõ về chức năng của Kiểm toán nội bộ như sau: - Kiểm toán nội bộ hoạt động vì sự an toàn, hiệu quả của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. - Rà soát, đánh giá độc lập, khách quan về mức độ đầy đủ, tính thích hợp, hiệu lực và hiệu quả của Hệ thống Kiểm sát nội bộ nhằm cải tiến, hoàn thiện HTKSNB.
Để thực hiện mục tiêu này, đơn vị thực hiện kiểm toán nội bộ được khuyến khích thực hiện hoạt động tư vấn, tham gia vào quá trình xây dựng cải tiến và hoàn thiện HTKSNB với điều kiện không vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan. - Phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. - Đảm bảo an toàn bảo mật thông tin và tính hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong hoạt động nghiệp vụ. - Đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.
6 Do đó, Bộ phận Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng phải hoạt động dựa trên năm nguyên tắc: độc lập, bảo mật, chuyên nghiệp, hoạt động liên tục và khách quan.3 Phạm vi hoạt động kiểm toán nội bộ Theo điều 15 thông tư 44 quy định về Hệ thống Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nói rõ về phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồm: - Kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; - Kiểm toán đột xuất và tư vấn theo yêu cầu của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc.4 Các mô hình kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ đã được tổ chức ở nhiều Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bước đầu, Bộ phận Kiểm toán nội bộ có những đóng góp tích cực vào hoạt động quản lý cũng như hoạt động kiểm soát nói chung trong NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán nội bộ trong NHTM đã phát sinh những vấn đề trong tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ. Theo quan sát, hiện nay các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam áp dụng những mô hình kiểm toán nội bộ sau: + Mô hình chuẩn Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Tổng Giám đốc Kiểm toán nội bộ Mô hình này được áp dụng ở hầu hết các quốc gia phát triển.
Kiểm toán nội bộ làm việc cho ban kiểm soát, ban kiểm soát độc lập với Hội đồng quản trị. 7 + Mô hình biến tấu 1 Ban kiểm soát Hội đồng quản trị Tổng Giám đốc Kiểm toán nội bộ Tại Việt Nam, chức năng của Ban Kiểm soát rất mờ nhạt, hầu hết các công ty chỉ dựng lên Ban Kiểm soát cho đủ ban bệ và tuân thủ theo quy định của pháp luật. Vì vậy mới phát sinh mô hình trên.