Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1. Khái quát chung về nghiệp vụ giao nhận 1. Khái niệm chung về giao nhận a. Khái niệm về hoạt động giao nhận Theo Phạm Mạnh Hiền (Nghiệp vụ Giao nhận Vận tải và Bảo hiểm trong Ngoại Thương, (2012)): Trong xã hội hiện nay, sự di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác của công cụ sản xuất, sản phẩm lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu và ngành vận tải có đủ khả năng thực hiện được điều này.
Để cho quá trình này được vận hành một cách trơn tru, bắt đầu từ tay người bán đến được với người mua, ta phải thực hiện một chuỗi các công việc khác nhau như đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp hàng, vận chuyển hàng hóa bằng các phương tiện chuyên chở, dỡ hàng ra khỏi tàu, giao hàng cho người nhận ở nơi đến…Tất cả loạt công việc trên được gọi chung là “Nghiệp vụ giao nhận – Forwarding”. Theo quy tắc mẫu của FIATA - Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội giao nhận, dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào có liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa và các dịch vụ tư vấn có liên quan đến những hoạt động trên, kể cả vấn đề về hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá. Theo Luật thương mại Việt nam tại Điều 233, Mục 4, Quốc Hội 2005 thì “giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác” Nói một cách tổng quát, giao nhận vận tải (hay freight forwarding) là dịch vụ vận chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng, trong đó người thực hiện giao nhận (freight forwarder) ký kết hợp đồng vận chuyển với chủ hàng, đồng thời cũng ký kết hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực hiện dịch vụ trên. Người giao nhận thực hiện các dịch vụ này một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác.
Giao nhận vận tải ngoại thương phục vụ cho hoạt động mua bán hàng hóa, trong đó giao nhận xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng lớn. Trong quá trình này có nhiều bên tham gia như: 1 n Người mua hàng (buyer): người đứng tên trong hợp đồng thương mại và trả tiền mua hàng hóa. Người bán hàng (seller): người bán hàng trong hợp đồng thương mại Người gửi hàng (consignor): người gửi hàng, ký hợp đồng với người giao nhận vận tải Người nhận hàng (consignee): người có quyền nhận hàng hóa Người gửi hàng (shipper): người gửi hàng trực tiếp ký hợp đồng với bên vận tải Người vận tải, hay người chuyên chở (carrier): vận chuyển hàng từ điểm giao đến điểm nhận theo hợp đồng vận chuyển Người giao nhận vận tải: là người trung gian thu xếp hoạt động vận chuyển, nhưng đứng tên người gửi hàng (shipper) trong hợp đồng với người vận tải Cơ quan hải quan: Là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, căn cứ vào cơ chế điều hành hàng hóa xuất, nhập khẩu để kiểm tra hàng hóa. Cảng vụ (Port Authorities): là các bộ phận chuyên trách của Cảng, tham gia việc quản lý Cảng; lịch tàu ra vào cảng, neo đậu; cung cấp các thiết bị bốc dỡ hàng hóa và làm các thủ tục liên quan đến bốc dỡ, vận chuyển, lưu giữ hàng hóa với hãng tàu, đại lý hãng tàu, chủ hàng, người giao nhận.
Khái niệm về người giao nhận ❖ Khái niệm: Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi tắt là “Người giao nhận – Forwarder – Freight Forwarder – Forwarding Agent”, họ có thể đảm nhận một hoặc nhiều vai trò như: chủ hàng (khi chủ hàng trực tiếp đứng ra thực hiện việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu nhận sự ủy thác để giao nhận hàng hóa của chủ hàng), công ty xếp dỡ hay kho hàng,. FIATA định nghĩa như sau: Người giao nhận là người thực hiện thu xếp, chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo yêu cầu trong hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác, nhưng bản thân họ không phải là người chuyên chở. Người giao nhận đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận, trong đó có đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…” Theo Ủy ban kinh tế, xã hội Châu Á Thái Bình Dương ESCAP đưa ra định nghĩa như sau: “Người giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất/nhập khẩu thực hiện những 2 n nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng”. Như thế, Công ty kinh doanh dịch vụ giao nhận (người giao nhận) là tổ chức cung cấp các dịch vụ giao nhận hàng hóa cho khách hàng của mình (người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu) như đã thỏa thuận trên hợp đồng giao nhận hàng hóa.
Công ty dịch vụ giao nhận có thể thay mặt người xuất/nhập khẩu hoặc thay mặt cả hai để thực hiện các dịch vụ: - Nhận ủy thác giao nhận hàng hóa khu vực và quốc tế bằng các phương tiện vận tải khác nhau với nhiều loại hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh… Làm đầu mối vận tải đa phương tiện trong đó sử dụng kết hợp nhiều phương tiện để đưa hàng đi đến bất cứ địa điểm nào theo yêu cầu của chủ hàng. - Thực hiện mọi dịch vụ liên quan đến giao nhận và vận tải như thuê tàu, thuê các phương tiện, mua bảo hiểm cho lô hàng, bảo quản hàng hóa, đóng gói, gom hàng hoặc chia lẻ hàng, thuê vỏ container… - Tư vấn cho các nhà xuất nhập khẩu về mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động giao nhận vận tải và bảo hiểm…nhận ủy thác và thu gom hàng xuất nhập khẩu. Trước đây, Forwarder chủ yếu làm đại lý thực hiện một số công việc do nhà xuất nhập khẩu ủy thác như xếp dỡ, lưu kho, vận chuyển nội địa, làm thủ tục, giấy tờ… Hiện nay, hoạt động thương mại quốc tế đã phát triển mạnh mẽ, người giao nhận không những thực hiện các thủ tục hải quan hay thuê tàu mà còn cung cấp các dịch vụ trọn gói cho toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối. Do vậy, giao nhận đóng một vai trò rất quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế.
❖ Vai trò của người giao nhận: Do sự phát triển của vận tải container và vận tải đa phương thức, người giao nhận giữ càng nhiều chức năng quan trọng, không những làm đại lý hay người nhận ủy thác mà còn cung cấp chuỗi dịch vụ về vận tải, phân phối hàng hóa và đóng vai trò như một người chuyên chở (Carrier). Tùy vào từng chức năng mà người vận tải giữ vai trò như sau: Người giao nhận tại biên giới (Frontier Forwarder): Người giao nhận đảm nhận vao trò như một môi giới hải quan, thực hiện làm thủ tục hải quan đối với hàng xuất - nhập khẩu và các hoạt động khác có liên quan đến chuyên chở hàng hóa trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của khách hàng, tùy thuộc vào hợp đồng mua bán. 3 n Làm đại lý (Agent): Người giao nhận hoạt động với vai trò như là một tổ chức trung gian giữa người gửi hàng và người chuyên chở, thực hiện việc chuyển chở hàng hóa. Trường hợp hàng hóa phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, lúc này người giao nhận sẽ làm thủ tục quá cảnh, hoặc tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương tiện này sang phương tiện khác, hoặc giao hàng trực tiếp đến tay người nhận.
Lưu kho hàng hóa (Warehousing): Trong trường hợp hàng phải lưu kho trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ sử dụng phương tiện của mình hoặc thuê một bên khác để phân phối hàng hóa theo yêu cầu. Người gom hàng (Cargo consolidator): Trong vận tải bằng container, thường có dịch vụ gom hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên container (FCL) để tiện cho việc vận chuyển và tiết kiệm chi phí. Trong trường hợp gom hàng lẻ, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở hoặc đại lý. Người chuyên chở (Carrier): Người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng.
Bên cạnh đó, có trường hợp người giao nhận chuyên chở theo hợp đồng nhưng không trực tiếp chuyên chở, dù trường hợp nào người giao nhận vẫn phải chịu trách nhiệm về hàng hóa. Người kinh doanh vận tải đa phương tiện (MOT): Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải “door – to– door” thì họ đóng vai trò như là người kinh doanh vận tải liên hợp, như là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa. Đặc điểm của nghiệp vụ giao nhận hàng hóa Theo Phạm Mạnh Hiền, Nghiệp vụ Giao nhận Vận tải và Bảo hiểm trong Ngoại Thương, (2012): Thông thường, giao nhận hàng hóa có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, hoạt động giao nhận hàng hóa không tạo ra sản phẩm vật chất. Chúng ta không thể nhìn thấy hay sờ vào được sản phẩm mà ta chỉ tác động lên đối tượng, ở đây là thay đổi vị trí hàng hóa từ địa điểm này đến địa điểm khác.
Nói cách khác, quá trình giao nhận là tập hợp các chuỗi hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thay đổi vị trí về mặt không gian, không làm thay đổi bản chất của loại hàng hóa. Vậy nên có thể nói giao nhận hàng hóa quốc tế là kinh doanh các sản phẩm vô hình, có đặc trưng đặc biệt là không dự trữ được và dịch vụ sẽ biến mất nếu ta không sử dụng nó. Thứ hai, hoạt động giao nhận hàng hóa mang tính thụ động khá cao. Hoạt động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhu cầu của khách hàng, những quy định của người vận 4 n chuyển, các ràng buộc về pháp luật, tập quán trong nước và quốc tế.
Chỉ khi nào khách hàng có nguồn hàng muốn xuất hoặc nhập, hay nói cách khác là có tham gia vào thương mại quốc tế, thì lúc đó doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là người thực hiện các nghiệp vụ giao nhận.