CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC VĂN THƯ - LƯU TRỮ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 1. Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý công tác văn thư - lưu trữ 1. Một số khái niệm liên quan - Văn thư Văn thư vốn là từ gốc Hán, dùng để chỉ tên gọi chung của các loại văn bản, bao gồm cả văn bản cá nhân, gia đình dòng họ lập ra (đơn từ, nhật ký, di chúc, gia phả …) và văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành (chiếu, chỉ, sắc, lệnh …) để phục vụ cho quản lý, điều hành công việc chung.
Thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến dưới các triều đại Phong kiến Trung Hoa và du nhập vào nước ta từ thời Trung cổ. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn được sử dụng khá phổ biến trong các cơ quan nhà nước. Dưới thời Minh Mệnh, cơ quan giúp việc vua trong công tác công văn, giấy tờ cũng được gọi là văn thư phòng [72]. Hiện nay trong các tài liệu học tập và tham khảo đã đưa ra các cách hiểu về văn thư như: Văn thư là văn bản, giấy tờ công tác của các cơ quan, tổ chức hoặc văn thư là phương tiện ghi tin và xử lý thông tin trong công tác quản lý.
- Công tác văn thư Có nhiều tài liệu đề cập thuật ngữ công tác văn thư đã được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý, ban hành văn bản và chính thức được sử dụng và giải thích trong văn bản quy phạm pháp luật. Có nhiều định nghĩa về công tác văn thư như sau: Thứ nhất: “Công tác văn thư là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ công việc liên quan đến soạn thảo, ban hành văn bản, tổ chức quản lý, giải quyết văn bản, lập hồ sơ hiện hành nhằm đảm bảo thông tin văn bản cho hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức”[72]. Thứ hai, công tác văn thư được định nghĩa là: “toàn bộ các quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ công tác văn bản giấy tờ”[39]. Thứ ba, theo Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư, tại khoản 2 Điều 1 lại được định nghĩa là: "Công tác văn thư bao gồm các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư" [30].
Thứ tư, công tác văn thư bao gồm: “Soạn thảo, ký ban hành văn bản, quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu và Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư” theo Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư; [34]. Luan van 7 Từ các khái niệm trên ta có thể quan niệm Công tác văn thư là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ công việc liên quan đến soạn thảo, ban hành văn bản, tổ chức quản lý, giải quyết văn bản, lập hồ sơ hiện hành, quản lý và sử dụng con dấu nhằm đảm bảo thông tin văn bản cho hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức. - Lưu trữ Người Việt Nam dùng thuật ngữ “lưu trữ” là lưu lại, giữ lại, giữ gìn, bảo tồn. Trong từ điển Tiếng Việt xác định: “Lưu trữ là cất giữ và sắp xếp, hệ thống hóa hồ sơ, tài liệu để tiện tra cứu, khai thác.
Ví dụ: lưu trữ tài liệu, phòng lưu trữ hồ sơ” [68]. Như vậy lưu trữ có nghĩa rộng là lưu lại, giữ lại. Đối với văn bản, tài liệu, công văn, giấy tờ thì “lưu trữ” nghĩa là giữ lại các văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cá nhân để làm bằng chứng và tra cứu khi cần thiết. Ở các cơ quan người ta thường nói: lưu trữ công văn, lưu trữ tài liệu, lưu trữ hồ sơ, lưu trữ bằng cứ, chứng cứ tại phòng lưu trữ, kho lưu trữ, trung tâm hay viện lưu trữ; trên các phương tiện truyền thông người ta thường nói: lưu trữ ký ức thời gian, dấu ấn thời gian.
- Công tác lưu trữ Có nhiều định nghĩa về công tác lưu trữ như sau: Một là: “Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của Nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ” [37]. Hai là thuật ngữ trong từ điển về công tác lưu trữ: “Toàn bộ các quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ lưu trữ nhằm thu thập, bổ sung, bảo quản, bảo vệ an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ” [39]. Ba là: “Công tác lưu trữ bao gồm các công việc về thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị và sử dụng tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức” [5]. Bốn là: “Công tác lưu trữ bao gồm nhiều mặt công tác, nhiều khâu nghiệp vụ khoa học, kỹ thuật đối với nhiều loại hình tài liệu.
Tổ chức quản lý để bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng tài liệu có hiệu quả trong phạm vi một quốc gia là một sự nghiệp công phu, lâu dài. Nó đòi hỏi phải có một cơ sở lý luận, có pháp chế, có hệ thống tổ chức quản lý, mạng lưới kho, có đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ v.v… và cả một loạt quy trình quản lý khác (như chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ, kế hoạch, tổ chức lao động, thống kê, kiểm tra, thanh tra v. Là một đơn vị trong quân đội, để phù hợp với Thông tư 80/2019/TT-BQP ngày 12/6/2019 chúng tôi quan niệm Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của nhà nước, bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. - Quản lý Taylor quan niệm: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 54].
- Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [54]. Như vậy, quản lý thực chất là một hành vi, chính xác hơn là một hoạt động gồm một chuỗi các hành vi gắn kết với nhau tạo nên một tổ hợp (một hệ thống) có tính đặc thù riêng. Chính vì vậy mà mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?; Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?; Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì?; Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? Trong quản lý xã hội ta quan tâm tới hành vi quản lý.
Hành vi quản lý được hiểu là những thao tác quản lý hay hoạt động quản lý để đạt mục đích của chủ thể quản lý, nghĩa là: Quản lý là hành vi mà những thành viên trong tổ chức thực hiện ở một môi trường nhất định nhằm nâng cao năng suất công việc, để đạt được mục đích của tổ chức. Kết quả hành vi quản lý là tạo lập thông tin và cung cấp thông tin chân thực, chính xác, khách quan, bằng việc cung cấp các minh chứng, thực chứng, chân lý giúp cho cá nhân và tổ chức khai thác nó thỏa mãn nhu cầu sử dụng. Muốn vậy hành vi quản lý phải tuân thủ các phương thức quản lý căn bản, được biểu hiện như: đăng ký, thống kê, kiểm kê, kiểm tra, đánh giá, báo cáo kết quả trong quá trình hoạt động. Trong lĩnh vực hoạt động quản lý VT-LT cũng trên cơ sở tương tự như vậy và mang tính chuyên biệt của ngành VT-LT, ta sẽ tìm hiểu ở phần sau.
Luan van 9 - Quản lý công tác văn thư - lưu trữ Hiện nay, trong công tác VT-LT chưa thấy có một nghiên cứu nào đưa ra các khái niệm về quản lý công tác VT-LT. Luận văn xuất phát từ những khái niệm quản lý; khái niệm văn thư; khái niệm lưu trữ ở trên đã đưa ra khái niệm quản lý công tác VT-LT như sau: Quản lý công tác VT-LT là tổng hợp các biện pháp của nhà quản lý đối với công tác VT-LT nhằm góp phần duy trì, phát triển cơ quan, tổ chức theo mục tiêu xác định. Phương thức quản lý VT-LT chính là tập hợp các thao tác, hành vi như: tạo lập đăng ký, thống kê, kiểm kê, kiểm tra, đánh giá, báo cáo kết quả trong quá trình hoạt động VT-LT. Như vậy bản thân lĩnh vực hoạt động quản lý VT-LT vừa tuân thủ tính pháp lý nghiêm ngặt, vừa linh hoạt, sáng tạo bởi chính người tạo lập ra nó trong từng văn bản, tài liệu được ban hành và lưu hành.
- Nâng cao hiệu quả Theo Từ điển Tiếng Việt thì Nâng cao là làm cho cao hơn trước, đưa lên mức cao hơn. Thực tế, nâng cao là toàn bộ những hoạt động tích cực, chủ động và tự giác của chủ thể tác động đến đối tượng nhằm đạt được ý định, mục đích yêu cầu đặt ra. Có thể nói rằng, một trong những khó khăn lớn nhất đối với công tác VT-LT đó chính là đánh giá hiệu quả hoạt động của quản lý công tác VT-LT. Chúng ta khó có thể nâng cao được hiệu quả trong hoạt động quản lý khi mà chúng ta còn chưa xác định được chính xác thế nào là hiệu quả cũng như chưa thiết lập được hệ thống các tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý công tác VT-LT.
Hiệu quả của một hoạt động là kết quả đạt được so với chi phí, thời gian bỏ ra cho hoạt động đó, có thể hiểu hiệu quả bằng kết quả trừ chi phí. Hiệu quả theo nghĩa chung nhất là kết quả của việc làm mang lại hoặc là kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ nhất định. Như vậy, hiệu quả là kết quả đạt được như yêu cầu của một việc làm mang lại.