Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ giáo dục học với đề tài "Phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đào Văn Mẫn, thuộc ngành Lý luận và Lịch sử giáo dục (mã số: 9 14 01 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Tình và TS Nguyễn Đăng Trung, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2024.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận giải xuất phát từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW gắn với chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng "tinh, gọn, mạnh", phấn đấu đến năm 2030 tiến lên "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại". Yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo quân đội được cụ thể hóa trong các văn bản của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng như Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về "Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới", Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về "Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo", Đề án số 1853/ĐA-TM ngày 07/03/2023 về "Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục trong quân đội giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo", và Quyết định số 3061/QĐ-BQP ngày 11/07/2023 phê duyệt "Đề án Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới".

Tuy nhiên, thực tiễn tại các học viện, trường sĩ quan Quân đội còn tồn tại bốn vấn đề lớn:

  1. Nhận thức, trách nhiệm và năng lực của một bộ phận cán bộ, giảng viên chưa đáp ứng kịp xu hướng phát triển của giáo dục và khoa học công nghệ để đổi mới giảng dạy.
  2. Giảng viên trẻ, giảng viên mới có thâm niên ít còn thiếu hụt kinh nghiệm hoạt động sư phạm, thái độ và động cơ nghề nghiệp chưa cao; một bộ phận thiếu tâm huyết và chưa hình thành nhu cầu tự đào tạo thường xuyên.
  3. Công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phát triển năng lực sư phạm chưa được tiến hành có hệ thống, thiếu các chế độ, chính sách ưu tiên khuyến khích mang tính thực chất.
  4. Chất lượng đầu ra của học viên ở một số cơ sở đào tạo chưa thích ứng nhanh với môi trường công tác tại các đơn vị cơ sở.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng năng lực sư phạm cùng quá trình phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội, đề xuất các biện pháp khoa học nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên trong bối cảnh hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các cơ sở giáo dục quân đội.

Giả thuyết khoa học của đề tài xác định: Trong quá trình tổ chức, thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, các học viện, trường sĩ quan Quân đội đã và đang thực hiện các hoạt động bồi dưỡng để phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên, song quá trình này vẫn còn những hạn chế nhất định. Nếu xác định được các năng lực sư phạm cần phát triển cho giảng viên và triển khai đồng bộ các biện pháp tác động như: nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục, cụ thể hóa khung năng lực sư phạm, phát huy tính tích cực, chủ động của giảng viên trong tự học tập, rèn luyện, và đặc biệt là thực hiện phương thức hướng dẫn đồng nghiệp thì sẽ nâng cao được năng lực sư phạm của giảng viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể gồm bốn nhiệm vụ:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng năng lực sư phạm và phát triển năng lực sư phạm của giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay.
  3. Đề xuất biện pháp phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay.
  4. Thực nghiệm biện pháp phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay.

Khách thể nghiên cứu là quá trình phát triển năng lực nghề nghiệp cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội. Đối tượng nghiên cứu là quá trình phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên các phương diện:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực sư phạm và phát triển năng lực sư phạm của giảng viên có thâm niên giảng dạy dưới 5 năm tại các học viện, trường sĩ quan Quân đội. Cấu trúc năng lực sư phạm tập trung nghiên cứu gồm ba năng lực cơ bản: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học. Quá trình phát triển năng lực sư phạm được xem xét theo tiếp cận hoạt động chuyên môn, hướng dẫn đồng nghiệp, trong đó đề cao tính tự giác, chủ động của người giảng viên.
  • Phạm vi địa bàn: Khảo sát thực trạng tại 5 cơ sở đào tạo gồm Học viện Chính trị, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Khoa học Quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân 1; tổ chức thực nghiệm sư phạm tại 2 cơ sở là Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân 1.
  • Phạm vi khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và học viên đang đào tạo tại 5 cơ sở khảo sát.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu, tư liệu khảo sát và thực nghiệm được thu thập, xử lý trong giai đoạn từ năm học 2020 - 2021 đến năm học 2023 - 2024.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai hướng lớn:

Thứ nhất, các nghiên cứu về năng lực sư phạm của người giảng viên:

  • Ở bình diện quốc tế, từ thế kỷ XVII, J. Comenius trong tác phẩm "Khoa Sư phạm vĩ đại" đã nhấn mạnh yêu cầu người thầy giáo phải mẫu mực về đạo đức, giỏi về chuyên môn để tổ chức dạy học hiệu quả. Trong nền giáo dục Xô Viết, A. S. Makarenko qua các tác phẩm "Bài ca sư phạm" (1928), "Ngọn cờ trên đỉnh tháp" (1938), "Giáo dục trong thực tiễn" (1938) chỉ rõ năng lực sư phạm hình thành thông qua hoạt động thực tiễn trong tập thể. F. N. Gonobolin (1979) trong "Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên" phân tích hệ thống năng lực đặc thù như hiểu học sinh, truyền đạt tài liệu, thu hút người học, tổ chức và giải quyết tình huống sư phạm. A. V. Petrovsky (thập niên 1980) trong "Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm" cấu trúc năng lực sư phạm thành các thành phần: dạy học, thiết kế, tri giác, truyền đạt, giao tiếp và tổ chức. Tại Hoa Kỳ, J. Dewey ("Cương lĩnh sư phạm") nhấn mạnh vai trò người thầy trong việc khơi dậy tính chủ động sáng tạo của người học; J. H. Stronge (2007) trong "Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả" và R. J. Marzano (2003) trong "Nghệ thuật và khoa học dạy học" cụ thể hóa năng lực sư phạm qua kỹ thuật điều hành lớp học, thiết kế chương trình và sử dụng phương pháp giảng dạy. Tại Đức, F. E. Weinert (1998) phân định 4 lĩnh vực tri thức của kỹ năng giảng dạy gồm: quản lý lớp, phương pháp dạy học, chuyên môn và chẩn đoán người học. B. Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) trong "Lý luận dạy học hiện đại" định nghĩa năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ trong các tình huống nghề nghiệp. Tại Trung Quốc, các tác giả Lưu Ly (2016), Yến Lương Thức (2017), Cách Ngọc Lạc (2018) tiếp cận năng lực sư phạm từ góc độ xử lý, chế biến tri thức, năng lực hoạch định kế hoạch và tổ chức dạy học phát triển nhân cách người học.
  • Ở Việt Nam, quan điểm Hồ Chí Minh về nhà giáo (bài nói tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964) khẳng định yêu cầu người thầy giáo phải kiêm bị cả đức và tài, vừa "hồng" vừa "chuyên", lý luận gắn liền với thực hành. Các nhà tâm lý học và giáo dục học trong nước đã phân tích sâu về cấu trúc năng lực sư phạm: Phạm Minh Hạc (1997) chia thành nhóm năng lực nhân cách, năng lực dạy học và năng lực tổ chức - giao tiếp; Thái Duy Tuyên (1999) phân loại thành năng lực dạy học, năng lực giáo dục và tổ chức hoạt động giáo dục; Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), Hà Nhật Thăng (2010), Trần Bá Hoành (2010) đi sâu vào các kỹ năng thiết kế, thực hiện kế hoạch và xử lý tình huống sư phạm. Tác giả Nguyễn Thị Tình (2010) với chuyên khảo "Tính tích cực giảng dạy của giảng viên đại học" đã phân chia năng lực sư phạm thành năng lực chung và năng lực riêng (dạy học, giáo dục, tổ chức, nghiên cứu khoa học). Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2012) xác định 3 nhóm năng lực cốt lõi của giảng viên đại học gồm: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học. Đỗ Văn Đoạt và Nguyễn Thị Bích Liên (2017), Nguyễn Đức Sơn và Lê Minh Nguyệt (2021), cùng Khung năng lực giảng dạy của Đại học Quốc gia Hà Nội (2022) tiếp tục bổ sung các tiêu chuẩn về thiết kế chương trình, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá.

Thứ hai, các nghiên cứu về phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên:

  • Các học giả quốc tế như A. S. Makarenko, N. K. Cai-rốp (1954), F. N. Gonobolin (1979) đều khẳng định năng lực sư phạm không phải bẩm sinh mà hình thành qua quá trình rèn luyện, bồi dưỡng lâu dài trong thực tiễn nghề nghiệp. E. Villegas-Reimers (2003) phân tích phát triển nghề nghiệp là tiến trình liên tục suốt cuộc đời làm nghề. Lưu Ly (2016) đề xuất quy trình 5 bước phát triển năng lực gồm cơ chế đánh giá, thiết kế nội dung bồi dưỡng theo giai đoạn, xây dựng cơ cấu bổ trợ, thiết lập cộng đồng học tập nghề nghiệp và gắn kết dạy học với giáo dục. Tại Nhật Bản, Daisaku Ikeda đề cao việc tự học tập suốt đời và cân bằng giữa nghiên cứu với giảng dạy; Manabu Sato (2022) trong cuốn sách "Đào tạo giáo viên trở thành người chuyên nghiệp" đề xuất chuyển đổi mô hình từ cá nhân tự học sang xây dựng "cộng đồng học tập" và thúc đẩy sự học hỏi lẫn nhau ngay tại nơi làm việc thông qua sự hỗ trợ của đồng nghiệp.
  • Tại Việt Nam, Trần Bá Hoành (2010), Thái Duy Tuyên (2007), Phạm Thành Nghị (2011), Trần Thị Tuyết Oanh và cộng sự (2019) nghiên cứu các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, vai trò của tổ bộ môn, sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và giảng dạy, cũng như con đường tự bồi dưỡng của giảng viên. Các công trình tiếp cận công nghệ và tương tác sư phạm của Hồ Ngọc Đại (2012), Nguyễn Hữu Long (2013), Phó Đức Hoà và Ngô Quang Sơn (2011), Tạ Quang Tuấn và Đỗ Thị Thu Huyền (2016), Vũ Lệ Hoa và cộng sự (2020), Nguyễn Lăng Bình và Đỗ Hương Trà (2021) cung cấp quy trình thao tác hóa hoạt động dạy học tích cực. Các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Nhân (2015), Phan Anh Hùng (2019), Lê Thị Kim Loan (2019), Ngô Thị Trang (2019) đã nghiên cứu rèn luyện kỹ năng dạy học theo tiếp cận linh hoạt, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đối tượng sinh viên sư phạm.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực sư phạm của giảng viên đại học nói chung và giảng viên trong các trường quân đội nói riêng, song dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử giáo dục, vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về năng lực sư phạm và quá trình phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội. Đặc biệt, chưa có công trình nào vận dụng mô hình phát triển chuyên môn dựa vào việc triển khai khung năng lực sư phạm và phương thức hướng dẫn đồng nghiệp để giải quyết bài toán thích ứng nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên trẻ (thâm niên dưới 5 năm) trong môi trường sư phạm quân sự trước tác động của chuyển đổi số và quá trình điều chỉnh tổ chức biên chế hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo; kết hợp vận dụng 5 cách tiếp cận nghiên cứu khoa học giáo dục:

  1. Tiếp cận hoạt động: Hoạt động sư phạm quân sự là phương thức tồn tại và phát triển nhân cách của người giảng viên; năng lực sư phạm biểu hiện trực tiếp qua kết quả hoạt động dạy học, giáo dục và nghiên cứu khoa học trong môi trường quân sự.
  2. Tiếp cận phát triển: Nhìn nhận năng lực sư phạm trong trạng thái vận động không ngừng, đặt người giảng viên vào vị trí chủ thể có khả năng tự hoàn thiện kiến thức, kỹ năng và thái độ so với chính bản thân qua từng giai đoạn.
  3. Tiếp cận năng lực: Tập trung vào việc hình thành và phát triển hệ thống năng lực thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp, bao gồm 3 cấu phần cốt lõi: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học.
  4. Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Xem xét quá trình phát triển năng lực sư phạm như một hệ thống toàn vẹn gồm các thành tố mục tiêu, nội dung, phương thức, điều kiện, lực lượng tham gia và kiểm tra đánh giá, nằm trong mối quan hệ biện chứng với môi trường sư phạm quân sự.
  5. Tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức của Khoa học giáo dục, Tâm lý học, Giáo dục học quân sự và Khoa học quản lý để giải quyết các vấn đề thực tiễn của công tác phát triển đội ngũ giảng viên.

Hệ thống khái niệm công cụ được xác lập trên cơ sở kế thừa các định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Từ điển Giáo dục học quân sự và các nhà nghiên cứu tâm lý học trong nước (Phạm Minh Hạc, Phạm Viết Vượng). Luận án xác định hai khái niệm trọng tâm:

  • Năng lực sư phạm của giảng viên: Là sự thực hiện hiệu quả hoạt động sư phạm dựa trên sự huy động tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp, phù hợp với các yêu cầu của hoạt động sư phạm trong những điều kiện xác định.
  • Phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội: Là quá trình các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, hỗ trợ kết hợp với sự nỗ lực tự học tập, tự rèn luyện của giảng viên nhằm làm biến đổi tích cực về chất lượng các thành tố của năng lực sư phạm (dạy học, giáo dục, nghiên cứu khoa học), đáp ứng chuẩn chức danh giảng viên và yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của Quân đội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai theo hướng tiếp cận hỗn hợp:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các văn kiện của Đảng, các chỉ lệnh, thông tư của Bộ Quốc phòng (tiêu biểu là Thông tư số 07/2021/TT-BQP quy định tiêu chuẩn giảng viên), các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và các tài liệu khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát hoạt động sư phạm và sinh hoạt chuyên môn; điều tra bằng phiếu hỏi đối với cán bộ quản lý, giảng viên và học viên; phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm với cán bộ lãnh đạo khoa, bộ môn và giảng viên; phương pháp chuyên gia để xin ý kiến về khung năng lực và các biện pháp đề xuất; nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục (hồ sơ bài giảng, giáo án, công trình nghiên cứu, kết quả học tập của học viên); tổng kết kinh nghiệm giáo dục; phương pháp nghiên cứu trường hợp đối với giảng viên trẻ; và phương pháp thực nghiệm sư phạm.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng thang đo khoảng theo giá trị trung bình (ĐTB) để đánh giá mức độ, sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 20.0 để tính toán các tham số thống kê mô tả, kiểm định tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, và so sánh kết quả trước - sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Nguồn dữ liệu của luận án được tổng hợp từ 5 cơ sở đào tạo quân đội trong giai đoạn 2020 - 2024, thể hiện qua bảng cơ cấu khảo sát và thực nghiệm:

Nhóm cơ sở đào tạo Tên cơ sở đào tạo Vai trò trong nghiên cứu Đối tượng khảo sát/thực nghiệm
Nhóm Học viện Học viện Chính trị Khảo sát thực trạng Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, học viên
Học viện Kỹ thuật Quân sự Khảo sát thực trạng Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, học viên
Học viện Khoa học Quân sự Khảo sát thực trạng Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, học viên
Nhóm Trường Sĩ quan Trường Sĩ quan Chính trị Khảo sát thực trạng và Thực nghiệm sư phạm Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, học viên; Nhóm thực nghiệm và đối chứng
Trường Sĩ quan Lục quân 1 Khảo sát thực trạng và Thực nghiệm sư phạm Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, học viên; Nhóm thực nghiệm và đối chứng

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ bản chất hoạt động sư phạm của giảng viên quân sự, yêu cầu của bối cảnh mới và cấu trúc khung năng lực sư phạm.

Về đặc điểm hoạt động sư phạm: Hoạt động sư phạm của giảng viên diễn ra trong môi trường quân sự đặc thù, tuân thủ nghiêm ngặt điều lệnh quản lý bộ đội, điều lệ công tác nhà trường và chế độ phân cấp chỉ huy - phục tùng. Giảng viên trực tiếp thực hiện đồng thời ba chức năng cơ bản: dạy học, giáo dục chính trị tư tưởng và nghiên cứu khoa học. Đội ngũ giảng viên quân sự có nguồn gốc tuyển chọn rất đa dạng: một bộ phận được đào tạo từ các trường sư phạm quân sự (Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị), nhưng phần lớn được điều động từ các đơn vị tác chiến, đơn vị kỹ thuật hoặc tốt nghiệp các trường đại học dân sự. Do đó, phần lớn giảng viên trẻ (thâm niên dưới 5 năm) chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm bài bản, tích lũy kiến thức lý luận sư phạm và kinh nghiệm đứng lớp còn hạn chế, dẫn đến thời gian thích ứng nghề nghiệp kéo dài.

Về bối cảnh hiện nay và yêu cầu đặt ra: Bối cảnh quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và vũ khí công nghệ cao đang đặt ra yêu cầu phải hiện đại hóa giáo dục quân sự. Ở trong nước, nhiệm vụ xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh đến năm 2025 và hiện đại vào năm 2030 đòi hỏi quy trình đào tạo cán bộ phải gắn liền phương châm "nhà trường gắn liền với chiến trường". Bên cạnh đó, Quân đội đã thực hiện sắp xếp lại hệ thống nhà trường (đến tháng 4/2022 sáp nhập, giải thể 61 trường quân sự, giảm 57 đầu mối so với năm 2017; tháng 8/2024 sáp nhập các quân đoàn), đặt ra yêu cầu cấp bách về chuẩn hóa và nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo.

Về cấu trúc năng lực sư phạm của giảng viên học viện, trường sĩ quan Quân đội: Luận án phân định thành ba năng lực cốt lõi:

  1. Năng lực dạy học: Nắm vững nội dung môn học, thiết kế kế hoạch bài dạy, sử dụng phương pháp và phương tiện kỹ thuật dạy học, tổ chức điều hành hoạt động học tập, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập.
  2. Năng lực giáo dục: Nắm bắt đặc điểm tâm lý học viên quân sự, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, giao tiếp và ứng xử sư phạm mô phạm, định hướng bản lĩnh chính trị, đạo đức và tác phong của người sĩ quan chỉ huy.
  3. Năng lực nghiên cứu khoa học: Phát hiện vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn quân sự, biên soạn bài giảng, giáo trình, thực hiện các đề tài khoa học và hướng dẫn học viên nghiên cứu khoa học.

Về quá trình phát triển năng lực sư phạm: Tác giả chỉ ra các thành tố của quá trình phát triển gồm mục tiêu, nội dung, phương thức, lực lượng tham gia, điều kiện bảo đảm và hoạt động đánh giá. Quá trình này chịu sự tác động đan xen của hai nhóm yếu tố: yếu tố chủ quan (nhận thức, động cơ nghề nghiệp, mức độ nỗ lực tự học tập của giảng viên) và yếu tố khách quan (trách nhiệm của cán bộ quản lý, môi trường sư phạm, điều kiện cơ sở vật chất và các chính sách đãi ngộ).

Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay

Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại 5 học viện và trường sĩ quan Quân đội bằng phiếu hỏi, phỏng vấn sâu và tổng hợp hồ sơ sư phạm từ năm học 2020 - 2021 đến 2023 - 2024.

Thực trạng năng lực sư phạm của giảng viên:

  • Khảo sát nhận thức và thái độ: Đa số cán bộ quản lý và giảng viên đều nhận thức rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của năng lực sư phạm và phát triển năng lực sư phạm đối với chất lượng giáo dục quân sự.
  • Mức độ biểu hiện các năng lực thành phần: Kết quả xử lý số liệu bằng SPSS 20.0 theo thang đo khoảng giá trị trung bình cho thấy năng lực sư phạm tổng thể của đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo quân đội hiện ở mức trung bình. Trong đó:
    • Năng lực dạy học: Giảng viên nắm vững nội dung chuyên môn và giáo án, nhưng kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, kỹ thuật dạy học hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều lúng túng. Khả năng thiết kế hoạt động tương tác giữa người dạy và người học chưa cao.
    • Năng lực giáo dục: Giảng viên thể hiện tốt tính gương mẫu, kỷ luật quân sự, chấp hành điều lệnh; tuy nhiên kỹ năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tư vấn tâm lý và xử lý tình huống sư phạm đối với học viên trẻ còn thiếu linh hoạt.
    • Năng lực nghiên cứu khoa học: Đây là thành tố có điểm đánh giá thấp nhất trong ba năng lực. Tỷ lệ giảng viên trẻ chủ trì đề tài khoa học các cấp, viết bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành còn thấp; năng lực chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào bài giảng còn hạn chế.

Thực trạng quá trình phát triển năng lực sư phạm:

  • Nhận thức về mục tiêu phát triển năng lực sư phạm nhìn chung đúng đắn nhưng việc cụ thể hóa thành kế hoạch cá nhân chưa rõ ràng.
  • Nội dung phát triển năng lực sư phạm còn nặng về bồi dưỡng chuyên môn thuần túy, chưa chú trọng đúng mức đến rèn luyện kỹ năng sư phạm và phương pháp nghiên cứu khoa học.
  • Về phương thức: Các nhà trường chủ yếu áp dụng các hình thức truyền thống như tổ chức hội giảng, thao giảng, dự giờ, tập huấn nghiệp vụ sư phạm ngắn hạn; phương thức hướng dẫn đồng nghiệp, hỗ trợ chuyên môn thường xuyên giữa giảng viên có kinh nghiệm với giảng viên trẻ chưa được thể chế hóa thành quy trình bắt buộc.
  • Điều kiện và môi trường sư phạm: Cơ sở vật chất, phòng học chuyên dùng, hệ thống học liệu số ở một số trường còn khó khăn; chính sách động viên, khuyến khích vật chất và tinh thần đối với hoạt động tự học tập, nghiên cứu của giảng viên trẻ chưa đủ mạnh.
  • Hoạt động kiểm tra, đánh giá: Việc đánh giá năng lực giảng viên chủ yếu thực hiện định kỳ theo quy chế hành chính, thiếu các rubric đánh giá chi tiết theo từng chỉ báo năng lực, chưa phát huy được hoạt động tự đánh giá và đánh giá chéo giữa các đồng nghiệp.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng:

  • Các yếu tố chủ quan: Nhận thức, xu hướng nghề nghiệp, động cơ phấn đấu và ý thức tự học, tự rèn luyện của giảng viên giữ vai trò quyết định nhất. Tác giả chỉ ra rằng đối với giảng viên có thâm niên dưới 5 năm, sự thiếu tự tin và rụt rè trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy là rào cản lớn.
  • Các yếu tố khách quan: Trách nhiệm quản lý của lãnh đạo khoa, bộ môn, áp lực khối lượng công tác huấn luyện kiêm nhiệm và môi trường sư phạm quân sự có tác động trực tiếp đến động lực phát triển chuyên môn của giảng viên.

Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong bối cảnh hiện nay

Dựa trên nguyên tắc bảo đảm tính mục đích, tính thực tiễn, tính hệ thống và tính khả thi, tác giả đề xuất hệ thống 7 biện pháp đồng bộ:

STT Tên biện pháp Nội dung và trọng tâm tác động
1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; làm chuyển biến trách nhiệm của cán bộ quản lý và tinh thần tự giác của giảng viên.
2 Hoàn thiện, triển khai khung năng lực sư phạm cho giảng viên các học viện, trường sĩ quan Quân đội Cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh theo Thông tư 07/2021/TT-BQP thành bộ tiêu chí, chỉ báo đo lường cụ thể cho 3 nhóm năng lực (dạy học, giáo dục, nghiên cứu khoa học).
3 Xây dựng chương trình phát triển năng lực sư phạm cho giảng viên Thiết kế nội dung bồi dưỡng theo các module linh hoạt, kết hợp bồi dưỡng lý luận sư phạm quân sự với kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho giảng viên mới và giảng viên trẻ.
4 Vận dụng phương thức hướng dẫn đồng nghiệp phát triển năng lực sư phạm Thiết lập cơ chế "cặp đôi chuyên môn", phân công giảng viên giàu kinh nghiệm kèm cặp, hỗ trợ giảng viên dưới 5 năm thâm niên qua soạn bài, dự giờ, phản hồi sư phạm.
5 Phát huy tính tích cực, chủ động của giảng viên trong tự học tập, nghiên cứu, tự rèn luyện Hướng dẫn giảng viên xây dựng kế hoạch cá nhân; thúc đẩy thói quen tự quan sát, viết nhật ký giảng dạy và chủ động tham gia đề tài khoa học.
6 Thường xuyên đánh giá và tự đánh giá mức độ phát triển năng lực sư phạm của giảng viên Áp dụng các bộ rubric đánh giá năng lực dạy học, giáo dục và nghiên cứu khoa học; kết hợp đánh giá của cơ quan quản lý với tự đánh giá và phản hồi từ người học.
7 Tạo điều kiện, môi trường sư phạm thuận lợi cho giảng viên phát triển năng lực sư phạm Nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị công nghệ giảng dạy hiện đại, giảm tải công việc hành chính ngoài chuyên môn, hoàn thiện chế độ khen thưởng, tôn vinh giảng viên giỏi.

Mối quan hệ giữa các biện pháp: Biện pháp 1 là tiền đề định hướng tư tưởng; biện pháp 2 cung cấp chuẩn mực và công cụ đo lường; biện pháp 3 và 4 là trọng tâm về nội dung và phương thức hành động; biện pháp 5 là nhân tố quyết định trực tiếp từ bên trong chủ thể; biện pháp 6 giữ vai trò kiểm tra, điều chỉnh; biện pháp 7 đóng vai trò bảo đảm môi trường và điều kiện thực hiện.

Khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm:

  • Kết quả khảo nghiệm: Khảo sát ý kiến của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên về tính cần thiết và tính khả thi của 7 biện pháp cho thấy điểm trung bình của tất cả các biện pháp đều đạt mức cao. Hệ số tương quan Pearson giữa tính cần thiết và tính khả thi đạt giá trị dương chặt chẽ, khẳng định sự phù hợp của hệ thống biện pháp đề xuất.
  • Quá trình thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm trên đối tượng giảng viên có thâm niên dưới 5 năm tại Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân 1. Luận án chia thành nhóm thực nghiệm (áp dụng quy trình bài giảng đổi mới, khung năng lực và phương thức hướng dẫn đồng nghiệp) và nhóm đối chứng (thực hiện theo phương thức bồi dưỡng thông thường). Tiến trình thực nghiệm sử dụng 3 bộ rubric chuẩn hóa để chấm điểm năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học, kết hợp phân tích các bài giảng thực giảng.
  • Kết quả thực nghiệm: Số liệu đo lường sau thực nghiệm được phân tích qua bảng tham số thống kê cho thấy:
    • Về nhận thức và thái độ: Nhóm thực nghiệm có sự chuyển biến rõ rệt về mức độ hiểu biết yêu cầu năng lực sư phạm và sự tự tin khi xử lý các tình huống lên lớp so với nhóm đối chứng.
    • Về chất lượng thực giảng: Điểm đánh giá năng lực thiết kế kế hoạch bài dạy, năng lực sử dụng phương pháp dạy học tương tác và năng lực kiểm tra đánh giá của nhóm thực nghiệm đạt mức điểm trung bình cao hơn nhóm đối chứng một cách rõ rệt.
    • Kiểm định thống kê khẳng định sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê, chứng minh tính hiệu quả và khả năng vận dụng thực tế của các biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực sư phạm và phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trong hệ thống các học viện, trường sĩ quan Quân đội, làm phong phú lý luận dạy học đại học quân sự trong bối cảnh mới.
  • Xác định rõ nội hàm, cấu trúc của năng lực sư phạm của giảng viên quân sự gồm ba thành tố quan hệ mật thiết: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học; chỉ rõ đặc trưng hoạt động sư phạm quân sự chịu sự chi phối bởi kỷ luật, điều lệnh và môi trường tác chiến.
  • Xác lập khung lý luận về phát triển năng lực sư phạm theo tiếp cận quá trình, xác định rõ các thành tố cấu thành và phân tích toàn diện hai nhóm yếu tố ảnh hưởng chủ quan và khách quan.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Khảo sát, phân tích một cách khách quan thực trạng năng lực sư phạm và công tác phát triển năng lực sư phạm tại 5 học viện, trường sĩ quan quân đội lớn đại diện cho các khối ngành (chính trị, chỉ huy tham mưu, kỹ thuật, nghiệp vụ khoa học).
  • Chỉ rõ thực trạng năng lực sư phạm của giảng viên quân sự hiện ở mức trung bình, trong đó năng lực nghiên cứu khoa học và kỹ năng đổi mới phương pháp giảng dạy là những điểm hạn chế nhất của nhóm giảng viên trẻ dưới 5 năm thâm niên.
  • Đề xuất hệ thống 7 biện pháp phát triển năng lực sư phạm có tính khả thi, trong đó nổi bật là giải pháp triển khai khung năng lực chuẩn hóa và áp dụng phương thức hướng dẫn đồng nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý của môi trường quân đội.
  • Xây dựng hệ thống công cụ đánh giá gồm các rubric đo lường chi tiết và quy trình thực nghiệm bài giảng, có thể chuyển giao áp dụng trực tiếp cho các nhà trường quân đội.

Khuyến nghị đề xuất:

  • Đối với Bộ Quốc phòng và Cục Nhà trường (Bộ Tổng Tham mưu): Ban hành quy định hướng dẫn triển khai thống nhất khung năng lực sư phạm cho giảng viên toàn quân; hoàn thiện chính sách đãi ngộ, chế độ nghiên cứu khoa học và tiêu chuẩn chức danh nhà giáo quân đội.
  • Đối với các học viện, trường sĩ quan: Thể chế hóa hoạt động hướng dẫn đồng nghiệp tại các khoa, bộ môn; đổi mới quy trình đánh giá giảng viên bằng việc sử dụng các rubric chuẩn; đầu tư nâng cấp hạ tầng số và phòng học chuyên dùng.
  • Đối với khoa giáo viên và bộ môn: Xây dựng môi trường chuyên môn thân thiện, biến tổ bộ môn thành cộng đồng học hỏi lẫn nhau; phân công trách nhiệm kèm cặp rõ ràng cho giảng viên có kinh nghiệm.
  • Đối với bản thân giảng viên: Nâng cao ý thức tự giác tự học, chủ động xây dựng kế hoạch rèn luyện cá nhân, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và vận dụng công nghệ vào bài giảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực tế mới tập trung tại 5 học viện, trường sĩ quan quân đội khu vực phía Bắc, chưa mở rộng ra các trường sĩ quan binh chủng và các cơ sở đào tạo quân sự khu vực phía Nam.
  • Khách thể nghiên cứu trọng tâm tập trung vào đối tượng giảng viên có thâm niên công tác dưới 5 năm, chưa đi sâu khảo cứu so sánh với các nhóm giảng viên có thâm niên từ 10 năm trở lên hoặc đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm giảng dạy.
  • Thời gian khảo sát và thực nghiệm diễn ra trong giai đoạn 2020 - 2024, một phần chịu ảnh hưởng của giai đoạn dịch bệnh và quá trình điều chỉnh tổ chức biên chế nên việc theo dõi tác động lâu dài của biện pháp còn giới hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu đến tất cả các học viện, trường sĩ quan trong toàn quân, đặc biệt là các trường sĩ quan kỹ thuật quân sự chuyên biệt.
  • Đi sâu nghiên cứu mô hình phát triển năng lực sư phạm số, năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mô phỏng trong giảng dạy huấn luyện quân sự.
  • Nghiên cứu cơ chế chính sách đặc thù nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực giảng viên chất lượng cao cho các nhà trường quân đội trong giai đoạn hiện đại hóa quân đội đến năm 2030.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý đào tạo (Cục Nhà trường, Phòng Đào tạo các học viện, trường sĩ quan): Khung năng lực sư phạm và hệ thống rubric đánh giá tại Chương 3 là công cụ hữu ích để chuẩn hóa quy trình thanh tra, kiểm tra, đánh giá phân loại giảng viên hàng năm.
  • Đối với lãnh đạo khoa, chủ nhiệm bộ môn: Cung cấp quy trình chi tiết về việc vận dụng phương thức hướng dẫn đồng nghiệp và tổ chức các buổi sinh hoạt học thuật nội bộ nhằm giúp đỡ giảng viên trẻ nhanh chóng hòa nhập môi trường sư phạm quân sự.
  • Đối với giảng viên trẻ, giảng viên mới công tác: Các bảng rubric tiêu chí năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học giúp giảng viên tự soi chiếu, nhận diện khoảng trống chuyên môn để xây dựng lộ trình tự học tập, tự bồi dưỡng hiệu quả.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử giáo dục, Quản lý giáo dục: Luận án cung cấp hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu và bộ dữ liệu khảo sát thực chứng có giá trị tham khảo về giáo dục học quân sự.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khung năng lực sư phạm của giảng viên học viện, trường sĩ quan Quân đội trong luận án gồm những năng lực cốt lõi nào? Khung năng lực được luận án xác định gồm ba năng lực cốt lõi: Năng lực dạy học (thiết kế bài giảng, sử dụng phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin, điều hành hoạt động học tập, kiểm tra đánh giá); Năng lực giáo dục (nắm bắt tâm lý học viên quân sự, giao tiếp sư phạm, nêu gương đạo đức, định hướng bản lĩnh chính trị người sĩ quan); và Năng lực nghiên cứu khoa học (phát hiện vấn đề thực tiễn quân sự, biên soạn bài giảng, giáo trình, chủ trì/tham gia đề tài khoa học và hướng dẫn học viên nghiên cứu).

  2. Luận án tiến hành khảo sát và thực nghiệm tại những cơ sở đào tạo nào? Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 5 cơ sở gồm: Học viện Chính trị, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Khoa học Quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân 1. Quá trình thực nghiệm sư phạm kiểm chứng các biện pháp được tổ chức tại 2 cơ sở: Trường Sĩ quan Chính trị và Trường Sĩ quan Lục quân 1 trên nhóm giảng viên có thâm niên dưới 5 năm.

  3. Vì sao luận án coi biện pháp "hướng dẫn đồng nghiệp" là khâu then chốt đối với giảng viên quân sự trẻ? Bởi vì đặc thù đội ngũ giảng viên tại các học viện, trường sĩ quan Quân đội có nguồn tuyển đa dạng (từ đơn vị chiến đấu, trường kỹ thuật, trường dân sự), đa số chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm bài bản. Phương thức hướng dẫn đồng nghiệp (kèm cặp theo cặp, sinh hoạt chuyên môn tại tổ bộ môn) tạo cơ chế tương tác, chia sẻ kinh nghiệm thực tế ngay tại nơi làm việc, giúp giảng viên trẻ khắc phục sự thiếu tự tin và nhanh chóng tiếp thu kỹ năng sư phạm từ các đồng nghiệp đi trước.

  4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án đã chứng minh điều gì về tính khả thi của các biện pháp? Dữ liệu định lượng xử lý bằng SPSS 20.0 và Microsoft Excel chứng minh rằng nhóm giảng viên thực nghiệm áp dụng quy trình bài giảng mới, khung năng lực và phương thức hướng dẫn đồng nghiệp đạt kết quả cao hơn nhóm đối chứng về nhận thức nghề nghiệp, điểm đánh giá thiết kế bài dạy và chất lượng thực giảng. Các kiểm định tham số cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, chứng minh các biện pháp đề xuất có tác dụng nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên.

  5. Những yếu tố chủ quan nào thuộc về giảng viên ảnh hưởng nhiều nhất đến việc phát triển năng lực sư phạm? Theo kết quả khảo sát thực trạng của luận án, nhóm yếu tố chủ quan ảnh hưởng mạnh nhất gồm: nhận thức về tầm quan trọng của năng lực nghề nghiệp, động cơ và thái độ đối với nghề dạy học quân sự, tính tích cực, chủ động trong tự học tập, tự rèn luyện, và sự tự tin trong đổi mới phương pháp giảng dạy.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Văn Mẫn đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của giáo dục đại học quân sự là phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trong điều kiện hiện đại hóa Quân đội và chuyển đổi số. Bằng cách tiếp cận hệ thống và phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, tác giả đã làm rõ thực trạng năng lực sư phạm của giảng viên tại 5 học viện, trường sĩ quan lớn, chỉ rõ những hạn chế cần tháo gỡ của nhóm giảng viên dưới 5 năm thâm niên. Hệ thống 7 biện pháp được đề xuất—đặc biệt là việc hoàn thiện khung năng lực và vận dụng phương thức hướng dẫn đồng nghiệp—đã được kiểm chứng qua khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm, chứng minh tính khoa học và hiệu quả thực tiễn đối với công tác bồi dưỡng nhà giáo quân đội hiện nay.