Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về năng lực sư phạm của giảng viên Giáo dục là hiện tượng xã hội-lịch sử, đồng hành với sự phát triển của xã hội loài người. Khi Khoa học giáo dục hình thành, vấn đề GD, ĐT nói chung và NLSP của người GV đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong tác phẩm “Khoa Sư phạm vĩ đại”, J. Comexki - Nhà giáo dục người Séc, đã đề cập đến năng lực của người thầy giáo. Từ việc khẳng định chức năng của nghề giáo, ông cho rằng người giáo viên phải mẫu mực, trong sáng về đạo đức, giỏi về chuyên môn, đáp ứng đòi hỏi của xã hội. Ông nêu lên quan điểm: để làm sao “thầy giáo dạy ít hơn, nhưng học sinh học được nhiều hơn… để trong trường học không có tiếng kêu la, không có cảm giác sợ và sự lao động bị bỏ ra một cách vô ích, mà chỉ có niềm vui và những hi vọng đầy thành tích” [18, tr.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm giáo dục của các học giả Xô Viết còn nguyên giá trị. Makarenco qua tác phẩm “Bài ca sư phạm” (1928), “Ngọn cờ trên đỉnh tháp” (1938), “Giáo dục trong thực tiễn” (1938) đã đề cập sâu sắc các quan điểm giáo dục được thể nghiệm trong hoạt động thực tiễn ở trại Gooc-xki và Công xã Déc-din-xki. Makarenco khẳng định vai trò to lớn và quyết định của thực tiễn. Khẳng định khoa sư phạm phải có trong tay tất cả các phương pháp gây ảnh hưởng tích cực đủ mạnh tới giáo dục con người.
Tư tưởng giáo dục trên thấm nhuần tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, đề cao tính tích cực trong nhân cách, vị thế và vai trò của tập thể trong sự điều hành có tổ chức của nhà giáo dục có phẩm chất và NLSP [60 tr. Để trở thành nhà giáo dục chân chính có phẩm chất, có NLSP, theo A. Makarenco, đòi hỏi giáo viên phải coi trọng nghề nghiệp, tích cực làm việc, trau dồi tri thức toàn diện trong thực tiễn. Đòi hỏi nhà giáo dục cần: “thương yêu con người vô hạn, tất cả vì con người”.
Ông cho rằng “giáo dục trong thực tiễn” là cơ sở để kiểm nghiệm lý luận; lấy hoạt động thực tiễn để kích thích hứng thú học tập cho người học. Gonobolin với cuốn sách “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đã phân tích những năng lực hoạt động sư phạm của người giáo viên và cho rằng: NLSP là là một loại năng khiếu đặc biệt, thuộc về những năng lực đặc thù, chuyên biệt của ngành nghề sư phạm, giúp giáo viên hoàn thành tốt 10 nhiệm vụ của mình. Theo tác giả, những NLSP chỉ ra gồm: Năng lực hiểu học sinh, nắm vững những vấn đề tâm lý người học và phẩm chất của họ; năng lực truyền đạt tài liệu tới người học; năng lực thu hút học sinh, truyền nhiệt tình, cuốn hút và kích thích người học có cảm xúc thích hợp; năng lực thuyết phục mọi người, ảnh hưởng giáo dục đối với người khác; năng lực tổ chức, lãnh đạo tập thể, duy trì kỷ luật, hướng dẫn học tập, phối hợp hoạt động lao động và học tập; ứng xử sư phạm khéo léo; năng lực dự kiến và xử lý tình hình; năng lực sáng tạo trong hoạt động sư phạm; năng lực giải quyết tình huống sư phạm; năng lực huy động thực tiễn, kích thích hứng thú học tập, liên hệ tài liệu học tập cho người học [36, tr. Petrovxki - nhà tâm lý học Xô Viết - những năm 80 (thế kỷ XX), trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” đã chỉ ra phẩm chất và NLSP cơ bản của giáo viên.
Tác giả cho rằng đây không chỉ là điều kiện hoạt động sư phạm mà còn là kết quả của hoạt động; đó là sự kết hợp của các yếu tố: thuộc tính tâm lý, thái độ và hành động của giáo viên; là sự tổng hoà của phẩm chất tâm lý, tình cảm và ý chí của giáo viên. Về cấu trúc NLSP, ông đã phân định những dạng năng lực tương ứng như: Năng lực dạy học là khả năng xây dựng phương pháp truyền thụ tri thức và kỹ xảo cho học sinh trên cơ sở hiểu quy luật chung của việc dạy học; năng lực thiết kế: thiết kế, hình thành nhân cách học sinh một cách có kết quả, có thể dự kiến được thành quả, dự đoán được hành vi của trẻ; năng lực tri giác: thể hiện khả năng hiểu, nắm bắt tâm lý trẻ, trạng thái tinh thần của trẻ trong các thời điểm khác nhau; năng lực truyền đạt: khả năng thể hiện suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm của bản thân qua ngôn ngữ; năng lực giao tiếp: giúp xác lập các mối quan hệ với trẻ trong các điều kiện khác nhau; năng lực tổ chức: khả năng tổ chức, điều khiển quá trình dạy học-giáo dục một cách hiệu quả [79, tr. Ở Hoa Kỳ, quan điểm về NLSP của giáo viên được J.Dewey- Nhà triết học, Giáo dục học, Tâm lý học bàn trong “Cương lĩnh sư phạm”. Tác giả nêu lên các phương diện lớn: Giáo dục; chương trình dạy học; phương pháp dạy học; vị trí, chức năng giáo viên.Dewey nhấn mạnh đến vai trò của giáo viên và các phương pháp sư phạm phù hợp nhằm khơi dậy tính sáng tạo cho người học.
Theo đó, giáo viên không chỉ truyền thụ tri thức một chiều mà phải tổ chức, định hướng đi cho trẻ. Theo ông “trách nhiệm của lực lượng giáo viên không chỉ đào tạo nhân lực mà còn chính là việc định hình lối sống xã hội đúng đắn” [49, tr. Về NLSP của giáo viên, ông cho rằng nguồn lực của khoa học cần được tận dụng, phát huy mạnh mẽ trong công việc của giáo viên, giúp họ hoàn thành hiệu quả hoạt động dạy học của mình. 11 Tác giả Franz Emanuel Weinert - người Đức (1998) trong cuốn sách “Sự phát triển nhận thức học tập và giảng dạy” có kiến giải mới về hoạt động sư phạm khi cho rằng: GV như những chuyên gia giảng dạy.
Năng lực, tài nghệ sư phạm của người giáo viên biểu hiện ở việc họ có thể sử dụng được hiểu biết phong phú để hiểu cần phải dạy như thế nào. Tác giả còn phân biệt 4 lĩnh vực tri thức sau như những thành tố của kỹ năng giảng dạy: sự hiểu biết gắn với quản lí lớp; sự hiểu biết phương pháp dạy học; sự hiểu biết chuyên môn; sự hiểu biết chuẩn đoán (gắn với hiểu biết về người học) [120, tr. Theo tác giả, những giáo viên giỏi có NLSP nổi bật đặc biệt, giúp họ đạt kết quả không chỉ ở cấp độ hiệu quả mà còn ở cấp độ hành động. Thông qua quan sát hành vi ở lớp học, cho thấy đặc điểm nhân cách bao trùm ở người giáo viên có năng lực là “có sức cuốn hút” (nhiệt tình say mê, uy tín tự nhiên, năng lực quan tâm xã hội); ngoài ra tài năng sư phạm ở họ đòi hỏi cần có chất lượng đặc biệt về tri thức và kỹ năng nghề nghiệp [120, tr.
Tác giả Eleonora Villegas - Reimers (2003), trong cuốn sách “Teacher professional development” (tạm dịch: Phát triển chuyên môn của giáo viên) cho rằng, học cách dạy và làm việc để trở thành một giáo viên giỏi là một quá trình lâu dài. Ngoài hướng dẫn, giám sát của các chuyên gia còn cần có sự lĩnh hội những kiến thức nghề nghiệp. Bồi dưỡng NLSP, chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên là đòi hỏi tất yếu; là quá trình lâu dài bắt đầu từ sự chuẩn bị khởi đầu ở cơ sở đào tạo nghề sư phạm và tiếp tục cho đến khi người giáo viên đó về hưu [Dẫn theo 42, tr. Thập niên đầu của thế kỷ XXI, trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, James H.
Stronge (2007) qua tác phẩm “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” cho rằng: người giáo viên có hiệu quả phải là tổng hoà của các tính cách và hành vi, có lý tưởng, óc phân tích, có ý thức trách nhiệm, có năng lực, trình độ cao. Trong đó, những phẩm chất của người giáo viên được đánh giá có tính tổng hợp về tính cách, hành vi được biểu hiện rõ qua thái độ với nghề nghiệp, công việc, học sinh và các kỹ năng lên lớp, phương pháp giảng dạy của giáo viên [88]. Cũng như vậy, tác giả Robert J. Marzano (2003) trong cuốn“Nghệ thuật và khoa học dạy học” đã cụ thể hoá hệ thống NLSP của người giáo viên ở khả năng vận dụng kỹ năng, phương pháp dạy học, điều hành lớp học hiệu quả.
Ông cho rằng hoạt động sư phạm hiệu quả bao gồm ba lĩnh vực có liên quan với nhau: các phương pháp dạy học giáo viên sử dụng; các thủ thuật quản lý lớp và chương trình do giáo viên thiết kế [62, tr. Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) trong “Lý luận dạy học hiện đại” 12 giới thiệu, phân tích về năng lực và gắn với mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu dạy học nói riêng. Tác giả đi sâu giới thiệu nội hàm khái niệm năng lực, xem đó là: khả năng thực hiện có trách nhiệm, hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thuộc lĩnh vực nghề nghiệp [60, tr. Thông qua dấu hiệu của các dạng năng lực, các tác giả đề ra những nội dung giảng dạy phát triển năng lực gắn với hành động của người giáo viên trong hoạt động thực tiễn [64].
Những nghiên cứu gần đây của ngành Khoa học giáo dục Trung Quốc về NLSP của GV cho thấy cách tiếp cận mới trong nghiên cứu thực tiễn giáo dục. Tác giả Lưu Ly (2016) trong “Nghiên cứu năng lực dạy học của nhà giáo dục” cho rằng: sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo cần phải đặt công tác nâng cao năng lực dạy học của nhà giáo dục ở vị trí trọng yếu. Hoạt động nâng cao năng lực dạy học của nhà giáo dục không thể xem nhẹ, là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới chỉ tiêu, hiệu quả hoạt động giáo dục; đồng thời có liên quan mật thiết đến xác lập mục tiêu chiến lược trong quy hoạch giáo dục quốc gia. Về năng lực dạy học của GV, theo tác giả: “đó là bộ phận trọng yếu góp phần hình thành năng lực nghề nghiệp của GV; là năng lực quan trọng giúp người GV hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động dạy học, trong đó lấy năng lực nhận thức làm nền tảng, đối với các chuyên ngành khác nhau đòi hỏi những năng lực nhận thức và nền kiến thức đặc trưng khác nhau” [129, tr.