CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI KHỐI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về khách hàng doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Tùy thuộc vào từng thời kỳ và tính chất, trình độ phát triển của nền kinh tế và góc độ xem xét phân tích, khái niêm doanh nghiệp được đề cập với nhiều nội dung khác nhau. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh".
Đặc điểm doanh nghiệp ở Việt Nam Theo số liệu thống kê, năm 2015, nước ta có khoảng 97% tổng số DN đã đăng ký trên cả nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN); đóng góp gần 70% GDP Việt Nam năm 2017, cũng như 50% ngân sách quốc gia. Các DNVVN đã và đang là tạo ra một thị trường rộng lớn, mang lại nhiều tiềm năng về doanh thu cho các NHTM từ cấp tín dụng cho tới các sản phẩm khác. Cùng với các đặc điểm đặc thù của mình sẽ được nhắc dưới đây, DNVVN là đối tượng tiềm năng mà các NHTM cần chú trọng, và sẽ là đối tượng được nghiên cứu chủ yếu trong chuyên đề. Khái niệm về DNVVN.
Luan van 5 Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN theo Nghị định 56/2014/NĐ-CP DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Quy mô/Khu vực Số lao Nguồn Số lao Nguồn Số lao động vốn động vốn động Nông lâm nghiệp và < 10 < 20 tỷ 10-200 20-100 tỷ 200-300 thủy sản người đồng người đồng người Công nghiệp và xây < 10 < 20 tỷ 10-200 20-100 tỷ 200-300 dựng người đồng người đồng người Thương mại và dịch < 10 < 10 tỷ 10-50 10-50 tỷ 50-100 vụ người đồng người đồng người (Nguồn: Nghị định 56/2014/NĐ-CP). Đặc điểm của DNVVN: - Là loại hình doanh nghiệp có thể tạo lập dễ dàng bởi vì để thành lập DN chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, mặt bằng sản xuất, kinh doanh nhỏ, tận dụng được nguồn lao động thay thế cho nguồn vốn với mức tiền lương thấp, hơn nữa khả năng thu hồi vốn của DNVVN khá nhanh nên vòng quay của vốn nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. - DNVVN có bộ máy quản lý gọn nhẹ, cơ chế tổ chức đơn giản, không cồng kềnh do đó trình độ quản lý không đòi hỏi cao như các doanh nghiệp lớn nên chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm, dịch vụ thấp. - Với quy mô nguồn vốn nhỏ nên các DNVVN có thể phát triển rộng khắp các vùng của cả nước, tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế, tạo ra nhưng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng vùng miền.
- DNVVN thường tập trung vào kinh doanh một số mặt hàng chính, không kinh doanh quá nhiều mặt hàng như các doanh nghiệp lớn nên các DNVVN có độ nhạy bén cao hơn và dễ dàng nắm bắt các thông tin và cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh khi thời cơ đến. Mặt khác khi gặp các biến cố của môi trường kinh doanh thì Luan van 6 loại hình doanh nghiệp này linh hoạt hơn trong việc chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh hơn so với các doanh nghiệp lớn, do vậy mà tổn thất ít hơn. - Do quy mô và năng lực tài chính còn hạn chế của DNVVN nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị kỷ thuật hiện đại. Đồng thời do hạn chế về năng lực tài chính nên các DNVVN thường gặp khó khăn trong việc đào tạo nâng cao năng lực và tay nghề của cán bộ và công nhân.
- Nguồn vốn tự có và tài sản của DNVVN còn hạn chế nên khả năng vay vốn tín dụng ngân hàng cũng như việc huy động vốn trên thị trường tài chính là rất khó khăn, do đó DNVVN thương rơi vào tình trạng thiếu vốn để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chính nhưng hạn chế về vốn, về trình độ công nghệ, về phương thức quản lý mà khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị trường của doanh nghiệp thấp. Đây là nhưng yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho ngân hàng khi cho các DNVVN vay. Vai trò của DNVVN Sự phát triển của các DNVVN trong nền kinh tế thi trường đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế xã hội ở một số điểm sau: - Các DNVVN đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và tổng thu nhập quốc dân.
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì các DNVVN đóng góp rất lớn vào sự gia tăng thu nhập quốc dân, bình quân chiếm khoảng 40% GDP, giúp đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. - Cung cấp một khối lượng hàng hóa đáng kể cho xã hội. Theo thống kê của trung tâm hỗ trợ DNVVN, hàng năm các DNVVN đã đóng góp 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa một số ngành hàng thủ công mỹ nghệ… - Sự có mặt của các DNVVN đã thu hút một lượng lớn lao động, tạo ra nhiều việc làm mới với chi phí đầu tư thấp và tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho dân cư. Ở Việt Nam, các DNVVN sử dung đến 50.1% lao động trong xã hội đã góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và các vấn đề trong xã hội, đồng Luan van 7 thời góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phân dân cư, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các miền của đất nước và cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế.
- DNVVN có khả năng khai thác phát huy các nguồn lực và tiềm năng tai chỗ của các địa phương, các nguồn tài chính trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, quy mô nguồn vốn không nhiều nên loại hình doanh nghiệp này có thể được thành lập được ở tất cả các địa phương, tận dụng được nhưng thay thế tại chỗ giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. - Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động. Cùng với sự hình thành và phát triển của các DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các nhà kinh doanh sáng lập mới năng động và sáng tạo.
Đó là lực lượng cần thiết góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở những nước đang phát triển trong đó có nước ta. Nhưng năm gần đây đã xuất hiện nhiều đội nhũ các nhà quản lý trẻ, năng động, sáng tạo biết cách chèo chống đưa doanh nghiệp thoát ra cuộc khủng hoảng kinh tế và phát triển lên thành các doanh nghiệp lớn. Do vậy, đây là một môi trường đào tạo, rèn luyện và phát triển đội ngũ các nhà lãnh đạo tốt cho xã hội. - Tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn.
Với sự tham gia của nhiều các DNVVN vào hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm cho số lượng các chủng loại hàng hóa dịch vụ tăng lên rất nhiều. Kết quả là đã làm tăng tính chất cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp thường xuyên đổi mới mặt hàng, thay đổi, cải tiến công nghệ-kỷ thuật tăng chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thích ứng với những thay đổi của môi trường mới. Những yếu tố đó đã làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn. - Thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng miền, đặc biệt là ở nông thôn, miền núi.
Sự phát triển của DNVVN ở nông thôn và miền núi đã góp phần thúc đây nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ ngành nông, lâm, ngư nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ. Khái quát về tín dụng ngân hàng Luan van 8 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng xuất phát từ tiếng La tinh là “Credittum” – tức là “Tin tưởng, tín nhiệm”. Tiếng Anh gọi là credit.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mượn. Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền – hàng) giữa bên cho vay ( Ngân hàng và các chủ thể tài chính khác) với bên đi vay ( tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có tránh nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng ngày nay là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy vậy nó vẫn giữ nguyên bản chất của quan hệ tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Như vậy, Ta có thể hiểu: tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi trong một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tín dụng, NHTM khác để các doanh nghiệp kinh doanh thương mại đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thương mại, khuyến khích xuất khẩu các hàng hóa trong nước có tiềm năng thế mạnh, đồng thời giúp nhập khẩu các hàng hóa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc thiếu. Phân loại tín dụng 1. Căn cứ vào đối tượng khách hàng Hiện tại, để thuận tiện các NHTM thường có nhiều sản phẩm tín dụng phù hợp theo yêu cầu của khách hàng và chia theo đối tượng khách hàng để phục vụ, theo tiêu chí này khách hàng được chia làm 2 loại: Luan van 9 Tín dụng cá nhân: Hiện tại có rất nhiều sản phẩm tín dụng phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân phục vụ nhu cầu tiêu dùng, cá nhân vay vốn phục vụ nhu cầu kinh doanh.