Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hiệu quả cho vay học sinh – sinh viên của ngân hàng chính sách xã hội. Chương Chương 2: 3: Phương pháphiệu nghiên quả cứu cho và thiết họckếsinh luận– văn. Thực trạng vay sinh viên tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay học sinh – sinh viên 3 tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY HỌC SINH - SINH VIÊN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu “Student loans in Thailand, are they effective, equitable, sustainable?” được thực hiện năm 2003 bởi Adrian Ziderman. Nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu chính sách cho vay sinh viên ở Thái Lan giai đoạn từ 1997 – 2003, nghiên cứu cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997 tại Thái Lan đã có ảnh hưởng tiêu cực đến giáo dục đại học ở Thái Lan.
Những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ tới ngân sách quốc gia cũng như thu nhập của người dân đã làm cho những sinh viên nghèo gặp nhiều khó khăn trong nỗ lực tiếp cận với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Các chương trình cho vay sinh viên của Thái Lan được khởi xướng từ năm 1996 những phải đến năm 1997 mới chính thức hoạt động với mục đích hỗ trợ tài chính, tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cho những HSSV có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, theo chính sách cho vay học sinh sinh viên của Thái Lan, chỉ những hộ gia đình có tổng thu nhập bình quân đầu người dưới 150.000 Baht/năm mới được tiếp cận với nguồn vốn của chương trình, học sinh sinh viên phải hoàn trả vốn vay sau khi tốt nghiệp ra trường, lãi suất cho vay của chương trình cho vay HSSV thấp hơn lãi suất cho vay cùng thời hạn trên thị trường, nguồn vốn của chương trình chủ yếu do Chính phủ tài trợ. Bài viết “what matters in student loan default: A review of the research literature” được thực hiện năm 2009 bởi nhóm tác giả Gross, J.
Bài viết tập trung tìm hiểu và phân tích những 4 nguyên nhân làm cho sinh viên không trả được nợ vay ở Mỹ. Theo kết quả nghiên cứu của bài viết thì những nguyên nhân đó là: Kết quả học tập của sinh viên là yếu tố có ảnh hưởng đầu tiên tới khả năng trả nợ của sinh viên, bởi vì chỉ những sinh viên học hành chăm chỉ, có kiến thức tốt họ sẽ có cơ hội tìm kiếm được một công việc tốt với thu nhập cao. Đây là yếu tố căn bản có ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của sinh viên Mỹ. Thu nhập và các khoản nợ là yếu tố thứ hai ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của sinh viên, bởi vì có rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã có việc làm, có thu nhập khá nhưng vẫn không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay sinh viên trước đây do thu nhập của họ không cân bằng với giá trị các khoản nợ.
Nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy, có rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã vay thêm các khoản vay khác để mua xe, mua nhà… nên đã làm mất cân đối giữa thu nhập và các khoản nợ của họ. Tuổi tác của những người vay vốn đi học là yếu tố thứ ba ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của sinh viên, bởi vì theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy ở Mỹ có rất nhiều sinh viên là những người ngoài 30, 40 tuổi. Những đối tượng đó có rất nhiều khả năng có người phụ thuộc hoặc đang phải gánh chịu nhiều khoản nợ vay khác (vay mua nhà, mua xe) trước khi đi học. Hoàn cảnh gia đình là yếu tố thứ tư ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của sinh viên, theo kết quả nghiên cứu của bài viết, mức thu nhập và giáo dục của bố mẹ có ảnh hưởng nhiều đến khả năng trả nợ của sinh viên.
Những gia đình có thu nhập khá hơn kể từ khi sinh viên đi học hoặc những gia đình quan tâm đến giáo dục con cái thì khả năng trả nợ của sinh viên thường cao hơn những gia đình khác. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 5 Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng chính sách xã hội, “Giải pháp thu hồi nợ chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, tạo nguồn vốn quay vòng”, 2014, chủ biên Đào Anh Tuấn nghiên cứu đánh giá thực trạng thu hồi nợ HSSV của NHCSXH, từ đó rút ra những mặt đã làm được và những tồn tại, hạn chế cần giải quyết làm cơ sở đề xuất giải pháp thu hồi nợ tạo nguồn vốn quay vòng cho vay HSSV. Cơ sở lý luận, nghiên cứu chủ yếu tổng kết thực tiễn hoạt động thu hồi nợ của NHCSXH, kết hợp với các quy định về quản lý của Nhà nước, NHCSXH về chương trình cho vay HSSV để làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thu nợ HSSV của NHCSXH. Phương pháp nghiên cứu, đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tổ thống kê, phân tích hoạt động kinh tế để phân tích thực trạng thu nợ HSSV của NHCSXH.
Những kết quả nghiên cứu chính của đề tài Nghiên cứu đã tổng kết được cơ bản thực tiễn thu nợ HSSV của NHCSXH từ năm 2007-2014, nghiên cứu đã phân tích và đánh giá được một số nội dung về thực trạng thu hồi nợ của NHCSXH giai đoạn 2007-2014, nghiên cứu cũng đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hồi nợ tạo nguồn vốn quay vòng cho chương trình cho vay HSSV. Hạn chế của nghiên cứu, nghiên cứu chỉ đề cập đến thực trạng thu nợ cho vay HSSV trong giai đoạn 2007-2014 mà chưa bao quát được các hoạt động khác của chương trình cho vay HSSV. Bài viết “Những vướng mắc và giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn” của tác giả Nguyễn Đức Tú. Bài viết cho rằng chính sách cho vay HSSV là một chính sách mang lại những lợi ích kinh tế, xã hội to lớn.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, thực hiện vẫn còn khá nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ như: nguồn vốn cho vay 6 còn hạn hẹp, chủ yếu là nguồn vốn do NSNN cấp hàng năm nên còn chậm và thiếu; thủ tục vay vốn còn nhiều bất cập vì để được vay vốn HSSV phải xin xác nhận của nhiều cơ quan, tổ chức, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng sẽ khó khăn vì thời gian cho vay dài, nguồn thu nợ phụ thuộc vào thu nhập của HSSV sau khi ra trường, sự phối hợp của nhà trường và NHCSXH chưa chặt chẽ nên gây ra nhiều khó khăn trong việc theo dõi món vay. Từ việc phân tích những bất cập trong việc triển khai chương trình cho vay HSSV, bài viết đã đề xuất ba giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách cho HSSV nghèo vay vốn là: (i) tăng cường khai thác các nguồn vốn cho vay , (ii) cần có biện pháp quản lý và giám sát tiền vay hợp lý và thu hồi nợ hiệu quả, (iii) cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng với nhà trường và nhà trường với địa phương trong thực hiện chính sách. Kết luận, bài viết chỉ dừng lại ở việc nêu ra những khó khăn, tồn tại trong quá trình triển khai chương trình cho vay HSSV của NHCSXH trong giai đoạn đầu thực hiện (2007) nhưng chưa phân tích kỹ để chỉ ra đâu là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, khó khăn đó. Qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu đã trình bày ở trên cho thấy các công trình nghiên cứu về cho vay HSSV đã được công bố ở trong và ngoài nước trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn, tác giả có tham khảo, kế thừa một số lý luận, thực tiễn cũng như phương pháp nghiên cứu của những công trình đó.
Đồng thời xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn tập trung vào một số khoảng trống nghiên cứu sau: - Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay HSSV của NHCSXH Việt Nam. 7 - Thực trạng hiệu quả cho vay HSSV của NHCSXH huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên: Những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những kết quả, những hạn chế đó. - Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay HSSV của NHCSXH huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay học sinh – sinh viên của Ngân hàng chính sách xã hội 1.1 Các vấn đề chung về Ngân hàng chính sách xã hội 1.
Khái niệm và đặc điểm của NHCSXH Chính sách cho vay ưu đãi đối với các đối tượng chính sách được Chính phủ nhiều nước trên thế giới thực hiện thông qua các TCTD khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Có những nước, Chính phủ thông qua ngân hàng thương mại, hoặc các quỹ, các tổ chức tài chính vi mô, nhưng có những nước Chính phủ thành lập những ngân hàng riêng để thực hiện mục đích này. Nhận thức về mô hình ngân hàng tham gia thực hiện chính sách có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất, để chuyển tải vốn tới các đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội phải là một loại hình ngân hàng chính sách của Chính phủ, được thành lập chỉ để thực hiện các chương trình cho vay ưu đãi. Theo quan điểm này Chính phủ các nước sẽ thành lập ngân hàng chuyên biệt để thực hiện các hoạt động chính sách.
Quan điểm thứ hai, để chuyển tải vốn đến các đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội, Chính phủ có thể thông qua hệ thống NHTM thuộc sở hữu Nhà nước để thực hiện các chương trình cho vay ưu đãi theo chỉ định của Chính phủ. Quan điểm thứ ba, cho rằng không cần thành lập ngân hàng chuyên biệt cho người nghèo, người nghèo và các đối tượng chính sách khác không nhất 8 thiết phải được hưởng ưu đãi về lãi suất. Điều cần thiết đối với họ là được ưu đãi về điều kiện vay vốn. Do đó có thể thành lập NHTM cổ phần để cho vay đối với họ với lãi suất theo cơ chế thị trường.