Luận án tiến sĩ về nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của quốc hội, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2009

222
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

1.1. GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA QUỐC HỘI

1.2. HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI — KHÁI NIỆM, MỐI QUAN HỆ, CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ THỰC TRẠNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

2.2. THỰC TRẠNG HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

3.2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÁ NHÂN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Nội dung này tập trung vào việc phân tích hiệu lực giám sát của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền. Giám sát Quốc hội không chỉ là một chức năng mà còn là một quyền lực tối cao, thể hiện vai trò của Quốc hội trong việc kiểm soát các cơ quan nhà nước khác. Việc xác định rõ khái niệm về quyền giám sát là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện và đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát. Theo đó, hiệu lực giám sát được hiểu là khả năng của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lực của mình, đảm bảo rằng các quyết định và hành động của chính phủ đều phải chịu sự giám sát và kiểm tra. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhân dân mà còn nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của Nhà nước.

1.1. Khái niệm về quyền giám sát của Quốc hội

Quyền giám sát của Quốc hội được định nghĩa là khả năng kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước khác nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Quốc hội Việt Nam có trách nhiệm giám sát toàn bộ hoạt động của Nhà nước, từ hành pháp đến tư pháp. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhân dân mà còn tạo ra một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả. Việc xác định rõ ràng quyền giám sát cũng giúp nâng cao hiệu lực giám sát, từ đó tạo ra một môi trường chính trị minh bạch và trách nhiệm hơn.

1.2. Vai trò của hoạt động giám sát trong việc thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội

Hoạt động giám sát của Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Nó không chỉ giúp kiểm soát các hoạt động của chính phủ mà còn đảm bảo rằng các quyết định được đưa ra đều phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân. Hiệu lực giám sát được nâng cao khi Quốc hội có thể thực hiện các biện pháp cần thiết để yêu cầu giải trình từ các cơ quan nhà nước. Điều này không chỉ tạo ra sự minh bạch mà còn củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát cũng đồng nghĩa với việc tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

II. Quy định pháp luật hiện hành và thực trạng hiệu lực hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Nội dung này phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam. Các quy định này không chỉ xác định rõ quyền hạn của Quốc hội mà còn tạo ra khung pháp lý cho việc thực hiện hiệu lực giám sát. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy rằng mặc dù có nhiều quy định, nhưng hiệu quả hoạt động giám sát vẫn chưa đạt yêu cầu. Các yếu tố như thiếu minh bạch trong thông tin, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước đã ảnh hưởng đến khả năng giám sát của Quốc hội. Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cải thiện.

2.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, Quốc hội Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hoạt động giám sát. Các cuộc giám sát đã giúp phát hiện và khắc phục nhiều sai sót trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Điều này không chỉ nâng cao hiệu lực giám sát mà còn tạo ra một môi trường làm việc có trách nhiệm hơn cho các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát.

2.2. Những tồn tại hạn chế cần khắc phục

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng hiệu lực giám sát của Quốc hội vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những vấn đề lớn nhất là thiếu thông tin minh bạch từ các cơ quan nhà nước, điều này làm giảm khả năng giám sát của Quốc hội. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước cũng chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc giám sát không đạt được kết quả như mong đợi. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những tồn tại này, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát trong tương lai.

III. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam

Nội dung này đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lựchiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam. Việc xác định rõ các mục tiêu cụ thể trong hoạt động giám sát là rất quan trọng. Các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện quy trình giám sát, tăng cường đào tạo cho các đại biểu Quốc hội, và nâng cao tính minh bạch trong thông tin. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước để đảm bảo rằng hoạt động giám sát được thực hiện một cách hiệu quả nhất.

3.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội

Để nâng cao hiệu lực giám sát, cần thiết phải cải cách quy trình giám sát hiện tại. Việc xây dựng một hệ thống thông tin minh bạch và dễ tiếp cận sẽ giúp các đại biểu Quốc hội có đủ thông tin để thực hiện giám sát hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo cho các đại biểu về kỹ năng giám sát và phân tích thông tin. Điều này sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc giám sát các hoạt động của chính phủ.

3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước. Việc thiết lập các cơ chế phản hồi từ các cơ quan nhà nước đối với các cuộc giám sát của Quốc hội sẽ giúp cải thiện tính hiệu quả của hoạt động giám sát. Ngoài ra, cần có các cuộc họp định kỳ giữa Quốc hội và các cơ quan nhà nước để thảo luận về các vấn đề giám sát, từ đó tìm ra các giải pháp kịp thời và hiệu quả.

06/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của quốc hội việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUA HOẠT ĐỘNG GIAM SÁT CUA QUOC HOI 1. GIAM SAT CUA QUOC HOI VA VAI TRO CUA HOAT DONG GIAM SAT TRONG VIEC THUC HIEN QUYEN LUC NHA NUOC CUA QUOC HOI 1. Khái niệm về quyền giám sát của Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân và được coi là một trong 3 nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tạo nên chỉnh thể quyền lực nhà nước. Do vậy khi nghiên cứu chế định pháp lý về quyền giám sát tối cao của Quốc hội không thé tách rời với việc nghiên cứu tô chức quyền lực nhà nước, bởi phạm vi, đối tượng, phương thức và cơ chế thực hiện quyền giám sát sao cho hiệu lực và hiệu quả phụ thuộc phần lớn vào hình thức tổ chức quyền lực nhà nước va vi trí, vai trò của Quốc hội trong hệ thống quyền lực đó.

Và cũng từ nghiên cứu chức năng giám sát của Quốc hội trong cơ chế tô chức quyền lực nhà nước sẽ góp phan làm rõ van dé: Tại sao Quốc hội phải giám sát và giám sắt nhằm mục đích gì? Quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực đặc biệt. Đó là quyền lực chính trị của một quốc gia gắn bó chặt chẽ với ý chí của giai cấp cầm quyền và với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn xã hội, dân tộc, quốc gia. Mỗi cách hiểu, mỗi góc độ tiếp cận về quyền lực nhà nước, cách thức và quan điểm tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia (về cơ cấu lãnh thổ, chính thể, chế độ chính trị), quan điểm về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước (tập trung quyền lực hay phân chia quyền lực) đều có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến vai trò, vị trí của những yêu tô câu thành quyên lực nhà nước, trong đó có 14 quyền lực của Quốc hội. Bởi vậy, trước hết cần xem xét, phân tích quyền lực nhà nước đặt trong ý nghĩa đó.

Về mặt khái niệm, trong lịch sử tư tưởng của nhân loại đã có vô sé những định nghĩa khác nhau về “quyén lực”, tuy nhiên có thé hiéu quyền lực dưới đạng chung nhất - “Đó là mối quan hệ xã hội mà trong đó một số người hoặc nhóm người đạt được sự thực hiện ý chí của mình từ những người hoặc nhóm người khác. Quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực có đặc trưng nôi bật: một nhóm chủ thé nhất định áp đặt quyền lực lên toàn bộ xã hội và có quyền sử dụng những phương tiện cưỡng chế trong trường hợp có sự không tuân thủ từ phía đối tượng bị áp đặt quyền lực. Quyền lực nhà nước được thực hiện nhờ những thiết chế chính trị, trong đó Nhà nước là thiết chế chủ chốt, giữ vai trò trung tâm”.113,114] Trong lịch sử các học thuyết về Nhà nước và pháp luật thế giới từ thời cô đại đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức quyền lực Nha nước. Tuy nhiên, có hai quan niệm được áp dụng phổ biến cho đến ngày nay trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước, đó là thuyết phân chia quyền lực và thuyết tập trung quyền lực.

Hoc thuyết phân chia quyển lực hình thành gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản mới ra đời chống lại chế độ phong kiến chuyên chế với quan điểm về sự cần thiết phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành pháp va tư pháp gắn liền với tên tuổi những nha tư tưởng lớn của nhân loại là J. Nét đặc trưng trong học thuyết của Locke là việc khởi thảo học thuyết về “sự phân chia quyền. Locke cho rằng quyên lập pháp là quyền lực cao nhất trong Nhà nước” và đưa ra cảnh báo: “quyền lực lập pháp và hành pháp không được tập trung trong tay một người hoặc một thế lực lực [9, 53]. Học thuyết về phân chia quyền lực của Locke đã được S.

Montesquieu tiếp thu và hoàn thiện trong tác phẩm mang tính kinh điển "Tinh thần pháp luật”, 15 trong đó ông cho rằng quyền lực Nhà nước được chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Sự tập trung toàn bộ quyền lực trong tay một cá nhân, tổ chức hay đăng cấp đều dẫn đến sự lạm dụng quyền lực và chuyên chế. Ngoài ra, nguyên tắc phân chia quyền lực theo Montesquieu còn đòi hỏi phải trao cho mỗi nhánh quyền lực những tham quyền riêng biệt dé chúng có thể kiềm chế lẫn nhau, đảm bảo sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực. Cần phải có một trình tự mà theo đó "quyền lực này có thể ngăn chặn quyền lực khác" [55 tr.

Do đó, để đảm bảo sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực cần phải có một cơ chế giám sát gắt gao giữa các cơ quan dé tránh sự lạm quyền. Đó chính là cơ chế kìm chế đối trọng - dùng quyền lực hạn chế quyền lực. Nguyên tắc phân chia quyền lực theo ông trước hết thé hiện ở chỗ chúng thuộc về các cơ quan nhà nước khác nhau. Montesquieu cho rang trong cơ chế phân chia quyền lực thì quyền lập pháp là quyền làm luật, sửa đổi, huỷ bỏ luật và giám sát việc thi hành các luật đó.

Quyền lập pháp thé hiện ý chí chung của Quốc gia nên phải giao cho một cơ quan đại điện bao gồm những người do dân chúng bầu ra. Ông viết: "Cơ quan đại diện cho nhân dân không nên giải quyết các công việc cụ thể mà chỉ nên làm ra luật và xem xét việc thực hiện luật như thế nào. Điều này thì có thể làm tốt, và không ai có thê làm tốt hơn là cơ quan đại diện của dân" (55 tr100). Quyền hành pháp theo quan niệm của ông bao gồm quyền thực thi các văn bản pháp luật; quyền khai chiến, quyền nghị hoà, phái hoặc tiếp sứ thần, thiết lập an ninh và đề phòng xâm lược.

Quyền tư pháp là quyền trừng trị các tội phạm hay phân xử các vụ tranh chấp giữa các cá nhân. Học thuyết phân chia quyền lực được áp dụng một cách "cứng rắn" trong thé chế Nhà nước của Mỹ và một số nước khác. Hiện nay, ở một số nước hậu XHCN, thuật ngữ “phân chia quyền lực” này được đưa vào Hiến pháp nhưng “được áp dung trong những điều kiện phân quyền "mềm dẻo" hơn” [120 tr 866,867]. Sau khi phân 16 tích bộ máy nhà nước được xây dựng trên cơ sở của nguyên tắc phân chia quyền lực, các nhà nghiên cứu đã rút ra những đặc điểm cơ bản sau đây: 1) Quyền lực thống nhất, tối cao thuộc về nhân dân; 2) Không có một cơ quan nao nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước; 3) Sự độc lập của các nhánh quyền lực nhà nước và các cơ quan nhà nước có tính chất tương đối; 4) Hệ thống kiềm chế và đối trọng giới hạn quyền lực của mỗi cơ quan nhà nước và cản trở sự tập trung quyền lực trong tay một nhánh quyền lực nào đó gây tốn hại cho những nhánh khác.

Học thuyết về tập trung quyên lực với trọng tâm là các khái niệm khế ước xã hội và tính bất phân chia của chủ quyền nhân dân được khởi xướng bởi J.Roussau - chính trị gia người Pháp. Dé tránh tình trạng chuyên quyền và vô chính phủ, ông cho rằng “chi cần giới hạn thâm quyền của các cơ quan lập pháp và hành pháp, kiểm soát sự phục tùng của chính quyền hành pháp đối với chủ quyền nhân dân”. Tư tưởng tập trung quyền lực được thé hiện trên ba phương diện: mot là, sự thống nhất quyền lực về mặt xã hội xuất phát từ sự thống nhất về bản chất của các nhóm xã hội thống tri; hai là, sự thống nhất trong mục đích và phương hướng hoạt động của các cơ quan Nhà nước xuất phát từ yêu cầu thống nhất quản lý xã hội; ba /à, sự thống nhất về mặt tô chức - pháp lý, khi phân chia quyền lực bị phủ nhận và chỉ một số cơ quan được công nhận là cơ quan quyền lực nhà nước. Trên nền tảng của hai học thuyết đã nêu, các quốc gia trên thế giới đã áp dụng những yếu tô phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình dé hình thành các mô hình chính thé.

Trong đó, dấu hiệu đặc trưng dé phân biệt chúng với nhau chính là mối tương quan giữa quyên lực của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. M6 hình Nhà nước thuộc chính thể đại nghị (điển hình cho mô hình này là Anh) có đặc trưng là chế định trách nhiệm chính trị của Chính phủ và ngược lại là chê định giải thê Quôc hội. Quôc hội ở những nước này 17 đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Chính phủ, do vậy Chính phủ cần nhận được sự tín nhiệm của Quốc hội. Bất kỳ sự thay đổi nào về tương quan lực lượng trong Quốc hội cũng gây ảnh hưởng đến thành phần của Chính phủ, đặc biệt ở các nước có Chính phủ liên hiệp, đa đảng.

Trong chính thé cộng hoà đại nghị, “sự bat tín nhiệm dé lật đỗ chính phủ là một chế tai rất gay gắt, nó sẽ là đầu mỗi cho việc bất ôn định chính trị trong xã hội va nảy sinh mâu thuẫn chính trị giữa lập pháp và hành pháp, sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng chính trị, có nguy cơ de doa an ninh quốc gia nên việc sử dụng chế định này cần phải thận trọng. Do đó, luật pháp các nước cũng quy định một loạt các phương pháp nhăm hạn chế việc sử dụng chế tai này. Mô hình Nhà nước trong chính thể cộng hoà tổng thong, ma điễn hình là Hoa kỳ, lay nguyên tắc phân chia quyên lực "cứng ran" làm cơ sở cho việc tổ chức quyền lực nhà nước. Ở mô hình này hệ thống kiềm chế và đối trong phản ánh khá chính xác tương quan giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, không có trách nhiệm tập thé của Chính phủ trước Quốc hội, không có bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và việc giải tán Quốc hội.

Tuy vậy, “Tổng thống có quyền phủ quyết tương đối các đạo luật của Quốc hội (mặc dù vẫn có thé bị Quốc hội vượt qua). Một số quan chức do Tổng thong bồ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội. Quốc hội không thé bat buộc Tổng thống từ chức, nhưng lại có quyền đưa ra quyết định truất quyền Tổng thống qua hình thức luận tội (impeachment)”. Tóm lại, ở chính thé cộng hoà tổng thống “sự kiểm tra, giám sát không những chi được thé hiện giữa quốc hội lập pháp đối với chính phủ hành pháp, mà còn băng sự giám sát ngược lại của hành pháp đối với lập pháp.

Sự kiểm tra, giám sát này được hiến pháp thể hiện bằng hệ thống “kìm chế và đối trọng”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao hiệu lực giám sát của Quốc hội Việt Nam: Lý luận và thực tiễn" tập trung vào việc cải thiện khả năng giám sát của Quốc hội, một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Tác giả phân tích các lý thuyết và thực tiễn hiện tại, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, từ đó góp phần vào việc xây dựng một nền dân chủ vững mạnh hơn tại Việt Nam.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ bài viết này, bao gồm cái nhìn sâu sắc về vai trò của Quốc hội trong hệ thống chính trị, cũng như những thách thức mà cơ quan này đang phải đối mặt. Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ luật học đổi mới hoạt động của quốc hội tại kỳ họp ở việt nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các cải cách cần thiết trong hoạt động của Quốc hội. Những thông tin này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển và cải cách trong hệ thống giám sát của Quốc hội Việt Nam.