Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về động lực học tập tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) được thực hiện trên quy mô toàn trường với 1.355 sinh viên phân bổ tại 33 lớp học thuộc hai khối Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội tại Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long. Trong bối cảnh tiếng Anh trở thành công cụ hội nhập then chốt nhưng sinh viên không chuyên ngữ thường đối mặt với nhiều rào cản tâm lý, đề tài tập trung giải quyết bài toán: Làm thế nào để nhận diện chính xác và thúc đẩy các nhân tố động lực học tập cho sinh viên sư phạm.

Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực trạng chênh lệch rõ rệt về năng lực tiếp thu giữa các nhóm người học dù cùng học tập dưới một khung chương trình đào tạo 300 tiết và cùng một đội ngũ giảng dạy gồm 9 giảng viên chuyên trách. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định động cơ học tập nội tại (intrinsic motivation) và ngoại tại (extrinsic motivation), đo lường thái độ của người học đối với ngôn ngữ đích, đồng thời định vị các yếu tố then chốt từ giảng viên, giáo trình và điều kiện phòng ốc tác động đến kết quả học tập.

Nghiên cứu được triển khai trong mốc thời gian tháng 9 năm 2005 tại khuôn viên 3 hecta của trường dọc Quốc lộ 1A. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp tối ưu hóa 100% thời lượng 300 tiết học theo khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tháo gỡ điểm nghẽn về sĩ số lớp học ghép từ 40 lên đến 80 sinh viên trong không gian phòng học hẹp 45 mét vuông, từ đó nâng cao động lực nội tại và kết quả rèn luyện cho đội ngũ giáo viên tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa tâm lý học xã hội và phương pháp giảng dạy ngôn ngữ hiện đại, chủ đạo là thuyết động lực hai thành phần của Gardner và Lambert (1972) cùng mô hình tự quyết của Deci và Ryan (1985, 1992). Động lực nội tại được xác định là động lực xuất phát từ chính niềm vui thích, sự tò mò và cảm giác tự chủ khi tham gia vào hoạt động ngôn ngữ mà không phụ thuộc vào phần thưởng ngoại cảnh. Ngược lại, động lực ngoại tại gắn liền với sự kỳ vọng vào các lợi ích thực dụng như điểm số, vượt qua kỳ thi tốt nghiệp hoặc cơ hội tìm kiếm việc làm thu nhập cao sau khi ra trường.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình định hướng động lực L2 của Dörnyei (1994, 1997) với bốn chiều kích: nhu cầu hòa nhập văn hóa, mở rộng tầm nhìn, tìm kiếm thử thách mới và động lực gắn kết với giảng viên (affiliative drive). Khung phân tích còn vận dụng các khái niệm nền tảng:

  • Thuyết bộ lọc cảm xúc (Affective Filter) của Krashen (1987) nhằm lý giải rào cản lo âu ngôn ngữ.
  • Khái niệm sự chấp nhận sự mơ hồ (Tolerance of ambiguity) của Scarcella và Oxford (1992).
  • Khung 4 yếu tố động lực lớp học gồm sự hứng thú (interest), tính liên quan (relevance), kỳ vọng thành công (expectancy) và sự thỏa mãn (satisfaction) do Crookes và Schmidt (1991) đề xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế kết hợp định tính và định lượng (mixed-methods) theo định hướng của Wiersma (1995). Cỡ mẫu khảo sát gồm 100 sinh viên năm thứ ba được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng từ 2 lớp khối Tự nhiên (50 sinh viên) và 2 lớp khối Xã hội (50 sinh viên). Sinh viên năm ba được chọn vì đã tích lũy hơn 2 năm trải nghiệm thực tế với chương trình tiếng Anh không chuyên tại trường. Sau quá trình thu thập, có 98 phiếu thu về và 95 phiếu hợp lệ được đưa vào xử lý dữ liệu thống kê (đạt tỷ lệ phản hồi hữu dụng 96,9%). Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu toàn bộ 8 giảng viên tiếng Anh của trường để đối soát thực chứng.

Công cụ thu thập dữ liệu là bảng hỏi 21 đề mục (items) chuyển ngữ tiếng Việt từ khung chuẩn hóa của Gardner (1985), bao gồm 4 câu đo động lực nội tại, 4 câu đo động lực ngoại tại, 2 câu đo lý do ép buộc, 5 câu xác định nhân tố ảnh hưởng và 6 câu đo lường thái độ (chia đều 3 câu thuận và 3 câu nghịch). Lý do chọn phương pháp phân tích tần số phân phối phần trăm kết hợp phân tích tương quan định tính là nhằm lượng hóa chính xác sự khác biệt giữa các nhóm giới tính, độ tuổi và chuyên ngành, đồng thời làm rõ căn nguyên sâu xa của các rào cản sư phạm trong giai đoạn thu thập dữ liệu tháng 9 năm 2005.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ động lực tổng thể của sinh viên ở mức tương đối cao, trong đó chỉ số động lực nội tại chiếm ưu thế nhẹ so với động lực ngoại tại. Đa số sinh viên có thái độ học tập tích cực, coi việc học tiếng Anh là cơ hội khám phá tri thức mới thay vì chỉ là nghĩa vụ bắt buộc.

Thứ hai, tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo biến số giới tính. Nữ sinh đạt chỉ số động lực nội tại và thái độ tích cực cao hơn nam sinh khoảng 12% đến 15%, trong khi nam sinh lại thể hiện thiên hướng động lực công cụ và động lực ngoại tại cao hơn (chủ yếu tập trung vào mục tiêu việc làm và thu nhập).

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc giữa hai khối ngành đào tạo. Sinh viên khối Khoa học Xã hội thể hiện cả hai chỉ số động lực nội tại và ngoại tại vượt trội hơn hẳn so với sinh viên khối Khoa học Tự nhiên. Có tới hơn 60% sinh viên khối Tự nhiên đến từ vùng sâu vùng xa chỉ có 3 năm học tiếng Anh ở phổ thông, dẫn đến tâm lý e ngại và lo âu ngôn ngữ cao hơn nhóm sinh viên Xã hội vốn có từ 7 năm học tập liên tục.

Thứ tư, ảnh hưởng của độ tuổi đến cơ cấu động lực. Nghiên cứu chỉ ra xu hướng suy giảm của động lực nội tại và sự gia tăng của động lực ngoại tại ở nhóm sinh viên lớn tuổi (nhóm 23-24 tuổi so với nhóm 20-22 tuổi). Sinh viên lớn tuổi có thái độ ít hào hứng hơn nhưng lại thực dụng hơn trước áp lực tốt nghiệp.

Thứ năm, nhân tố giảng viên và môi trường giảng dạy có tác động áp đảo. Khoảng 85% người học khẳng định phương pháp giảng dạy, tính cách thân thiện và sự công nhận tiến bộ từ phía thầy cô là nguồn động viên lớn nhất. Ngược lại, điều kiện cơ sở vật chất với 2 phòng lab chỉ có 30 cabin cho 36 lớp học, cùng quy mô lớp ghép 80 sinh viên trong nền nhiệt phòng học nóng bức là những tác nhân gây triệt tiêu hứng thú học tập mạnh nhất.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh sự mâu thuẫn sâu sắc giữa chương trình khung và tài liệu giảng dạy thực tế. Giáo trình Streamline English (gồm 80 bài cuốn Departures cho năm nhất và 80 bài cuốn Connections cho năm hai, năm ba) tập trung chủ yếu vào kỹ năng nghe nói giao tiếp. Trong khi đó, khung quy định năm 1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại đặt trọng tâm vào kỹ năng đọc hiểu văn bản khoa học, đồng thời 100% các kỳ thi tại trường đều diễn ra dưới hình thức thi viết ngữ pháp và từ vựng. Sự không tương thích này làm suy giảm nghiêm trọng tính liên quan (relevance) và mức độ thỏa mãn (satisfaction) theo khung lý thuyết Crookes và Schmidt.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa và trình bày trực quan thông qua:

  • Biểu đồ cột kép so sánh chỉ số động lực nội tại và ngoại tại giữa hai giới tính.
  • Biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ phân bổ các nhân tố cản trở (cơ sở vật chất chiếm 42%, áp lực thi cử 28%, giáo trình không phù hợp 30%).
  • Bảng đối chiếu chéo (cross-tabulation) phân tích mối tương quan giữa số năm học tiếng Anh (3 năm so với 7 năm) và mức độ lo âu trong lớp học.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với luận điểm của Horwitz (1990) và Dörnyei (1990) khi nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển: động lực công cụ giữ vai trò duy trì tính kiên trì ngắn hạn, nhưng sự đồng hành của động lực nội tại mới là yếu tố quyết định giúp người học vượt qua ngưỡng trung cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái cấu trúc học liệu và giáo trình giảng dạy: Ban Giám hiệu cùng Tổ Bộ môn Ngoại ngữ cần rà soát lại toàn bộ 160 bài học của bộ sách Streamline English, bổ sung thêm 35% tài liệu đọc hiểu chuyên ngành sư phạm phù hợp với định hướng thi viết của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu đạt 80% mức độ hài lòng của sinh viên về tính ứng dụng của giáo trình, hoàn thành trong vòng 6 tháng đầu năm học.
  • Đổi mới phương pháp sư phạm và kỹ thuật khích lệ: Đội ngũ 9 giảng viên tiếng Anh cần áp dụng triệt để phương pháp đánh giá quá trình, tăng cường công nhận sự tiến bộ cá nhân thay vì chỉ chú trọng điểm số. Giảng viên cần chia nhỏ các lớp ghép 80 sinh viên thành các nhóm tương tác 4-6 người để tổ chức thảo luận, hướng đến mục tiêu giảm 30% mức độ lo âu ngôn ngữ trong 1 học kỳ.
  • Nâng cấp cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật: Phòng Quản trị Thiết bị cần xây dựng kế hoạch bổ sung hệ thống quạt mát, cách âm cho 33 phòng học và nâng cấp 2 phòng lab hiện có thành phòng thực hành đa phương tiện. Mục tiêu đảm bảo 100% sinh viên được tiếp cận tối thiểu 2 tiết học nghe nhìn/tuần theo lộ trình 12 tháng.
  • Xây dựng chương trình bổ trợ phân hóa theo đối tượng: Tổ chức các lớp phụ đạo tăng cường ngữ pháp và từ vựng miễn phí dành riêng cho sinh viên khối Tự nhiên và nhóm sinh viên xuất phát điểm thấp (chỉ học 3 năm phổ thông). Mục tiêu cải thiện ít nhất 20% điểm trung bình môn tiếng Anh cho nhóm đối tượng này sau 1 năm triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên tiếng Anh tại các trường cao đẳng và đại học sư phạm: Vận dụng các phát hiện thực chứng để thấu hiểu tâm lý sinh viên không chuyên, từ đó tối ưu hóa phương pháp truyền đạt và quản lý hiệu quả các lớp học có sĩ số đông từ 40 đến 80 người.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và phát triển chương trình: Sử dụng dữ liệu phân tích về sự lệch pha giữa giáo trình giao tiếp và đề thi chuẩn hóa để thiết kế lại đề cương môn học 300 tiết, đảm bảo tính liên thông và chuẩn đầu ra thực chất.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành TESOL / Ngôn ngữ học ứng dụng: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp và bộ công cụ khảo sát 21 items đã được chuẩn hóa để mở rộng nghiên cứu sang các địa bàn đào tạo khác tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Sinh viên sư phạm các ngành Khoa học Tự nhiên và Xã hội: Nhận diện rõ các yếu tố tâm lý, kiểm soát bộ lọc cảm xúc và mức độ lo âu cá nhân nhằm chủ động xây dựng lộ trình tự học ngoại ngữ phù hợp với năng lực bản thân.

Câu hỏi thường gặp

  • Động lực nội tại hay ngoại tại giữ vai trò chi phối lớn hơn đối với sinh viên Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long? Khảo sát trên 95 sinh viên chỉ ra rằng động lực nội tại chiếm ưu thế nhẹ về mặt sở thích ban đầu, nhưng động lực ngoại tại (như thi qua môn và tìm kiếm việc làm) lại là động lực chủ đạo giúp sinh viên duy trì nỗ lực trong môi trường học tập nhiều áp lực.

  • Tại sao sinh viên khối Tự nhiên lại có chỉ số động lực và thái độ thấp hơn khối Xã hội? Khoảng 60% sinh viên khối Tự nhiên xuất thân từ vùng nông thôn và chỉ có 3 năm học tiếng Anh cấp ba, thiếu hụt nền tảng từ vựng nên gặp rào cản tâm lý lo âu ngôn ngữ lớn hơn so với sinh viên khối Xã hội có 7 năm học tập.

  • Quy mô lớp học từ 40 đến 80 sinh viên ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến việc dạy và học? Lớp ghép sĩ số lớn trong phòng học diện tích 45 mét vuông gây khó khăn cho việc tổ chức trò chơi ngôn ngữ và thảo luận nhóm, làm giảm 50% cơ hội tương tác trực tiếp giữa giảng viên và người học, khiến sinh viên dễ mất tập trung.

  • Điểm bất cập lớn nhất của bộ giáo trình Streamline English trong nghiên cứu là gì? Bộ sách 160 bài chú trọng kỹ năng giao tiếp nghe nói trong khi đề thi và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại tập trung vào ngữ pháp và đọc hiểu, tạo nên sự bất hợp lý giữa nội dung học và hình thức đánh giá.

  • Giảng viên có thể ứng dụng giải pháp nào ngay trên lớp để gia tăng động lực cho người học? Giảng viên nên sử dụng kỹ thuật củng cố tích cực, thường xuyên công nhận tiến bộ dù là nhỏ nhất của sinh viên, đồng thời linh hoạt chia nhóm nhỏ 4 đến 6 người để giảm áp lực tâm lý khi phát biểu trước tập thể.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công thực trạng động lực học tập tiếng Anh của 95 sinh viên không chuyên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long thông qua thang đo 21 đề mục chuẩn hóa.
  • Làm sáng tỏ quy luật phân hóa động lực theo các biến số nhân khẩu học: nữ sinh và khối Xã hội vượt trội về động lực nội tại; nam sinh và nhóm lớn tuổi (23-24 tuổi) thiên về động lực ngoại tại.
  • Phát hiện điểm nghẽn mang tính hệ thống từ sự không tương thích giữa giáo trình nghe nói Streamline English và hình thức thi viết theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Khẳng định vai trò quyết định của phẩm chất giảng viên, phương pháp sư phạm và sự cần thiết phải cải thiện điều kiện phòng ốc, sĩ số lớp học.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm khuyến nghị hành động toàn diện có tính ứng dụng cao cho công tác đào tạo ngoại ngữ không chuyên trong các trường sư phạm.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2006 đến năm 2008, nhà trường cần tiến hành rà soát giáo trình và mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ các khóa đào tạo. Quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng bộ thang đo và các chiến lược nâng cao động lực học tập vào thực tiễn giảng dạy.