Công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường tại Cẩm Phả từ năm 2000 đến 2012

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường giai đoạn 2000-2012.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Thị xã Cẩm Phả và tình hình công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở trước năm 2000

1.2. Những nhân tố tác động đến công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở thị xã Cẩm Phả

1.3. Khái quát công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trước năm 2000

1.4. Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường từ năm 2000 đến năm 2005

1.5. Chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả

1.6. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả

1.7. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2012

2.1. Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2005 đến 2012

2.2. Những yêu cầu mới đối với công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2005 đến 2012

2.3. Chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả về đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở

2.4. Quá trình và kết quả sự chỉ đạo đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2005 đến năm 2012

2.5. Quá trình chỉ đạo

2.6. Những kết quả chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Về thành tựu

3.2. Về hạn chế

3.3. Các kinh nghiệm và vấn đề đặt ra

3.4. Một số vấn đề đặt ra

3.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả 2000 2012

Công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã tại Cẩm Phả từ năm 2000 đến 2012 đã có những bước tiến quan trọng. Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã nhận thức rõ vai trò của công tác này trong việc phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị. Những chủ trương, biện pháp được triển khai đã tạo ra sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.

1.1. Ý nghĩa của công tác vận động quần chúng trong xây dựng chính quyền

Công tác vận động quần chúng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là cầu nối giữa chính quyền và nhân dân. Việc này giúp nâng cao sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị, từ đó tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

1.2. Lịch sử hình thành công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả

Cẩm Phả đã có truyền thống trong công tác vận động quần chúng từ những năm đầu của thế kỷ 21. Những chính sách và biện pháp được áp dụng đã dần dần hình thành nên một mô hình hiệu quả trong việc xây dựng chính quyền cấp xã.

II. Những thách thức trong công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả 2000 2012

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả vẫn gặp phải không ít thách thức. Những vấn đề như sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền, tình trạng khiếu kiện kéo dài và các vấn đề xã hội phức tạp đã đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới trong phương thức hoạt động.

2.1. Tình trạng thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền. Điều này xuất phát từ những sai sót trong quản lý và thực thi chính sách, dẫn đến sự chậm trễ trong giải quyết các vấn đề của người dân.

2.2. Các vấn đề xã hội phức tạp ảnh hưởng đến công tác vận động

Tình trạng khiếu kiện kéo dài, đặc biệt là liên quan đến đất đai, đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác vận động quần chúng. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến lòng tin của người dân mà còn làm giảm hiệu quả của chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ.

III. Phương pháp nâng cao công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả 2000 2012

Để nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những biện pháp này không chỉ giúp cải thiện mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân mà còn tạo ra những bước tiến mới trong việc xây dựng chính quyền cấp xã.

3.1. Tăng cường sự tham gia của người dân trong các hoạt động chính trị

Việc khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động chính trị đã giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ đối với chính quyền. Các cuộc họp, hội thảo được tổ chức thường xuyên để lắng nghe ý kiến của người dân.

3.2. Đổi mới phương thức tiếp cận và giao tiếp với người dân

Đổi mới trong phương thức giao tiếp với người dân là cần thiết. Sử dụng các kênh truyền thông hiện đại, như mạng xã hội, để truyền tải thông tin và lắng nghe phản hồi từ cộng đồng.

IV. Kết quả đạt được từ công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả 2000 2012

Công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Những thành tựu này không chỉ thể hiện qua sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn qua sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân.

4.1. Sự phát triển kinh tế xã hội tại Cẩm Phả

Nhờ vào công tác vận động quần chúng, Cẩm Phả đã có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Các dự án phát triển hạ tầng, dịch vụ công cộng được triển khai hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân.

4.2. Tăng cường lòng tin của người dân vào chính quyền

Sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân đã giúp tăng cường lòng tin của người dân vào chính quyền. Những phản hồi tích cực từ cộng đồng đã tạo ra động lực cho chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả

Công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả từ năm 2000 đến 2012 đã để lại nhiều bài học quý giá. Những kinh nghiệm này cần được áp dụng và phát triển hơn nữa trong tương lai để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân.

5.1. Bài học kinh nghiệm từ công tác vận động quần chúng

Những bài học từ công tác vận động quần chúng tại Cẩm Phả cho thấy tầm quan trọng của việc lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của người dân. Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định cho sự thành công của chính quyền.

5.2. Định hướng phát triển công tác vận động quần chúng trong tương lai

Trong tương lai, công tác vận động quần chúng cần được tiếp tục đổi mới và sáng tạo. Việc áp dụng công nghệ thông tin và các phương pháp hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả và sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ thị xã cẩm phả tỉnh quảng ninh lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã phường từ năm 2000 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Thị xã Cẩm Phả và tình hình công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở trước năm 2000 1. Những nhân tố tác động đến công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở thị xã Cẩm Phả. Cẩm Phả là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam.

Ngày 21 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ - CP, thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả. Cẩm Phả là đơn vị hành chính cấp huyện có dân số đông thứ 2 tại Quảng Ninh sau thành phố Hạ Long - Về vị trí địa lý: Thị xã Cẩm Phả nằm cách thủ đô Hà Nội hơn khoảng 200 km về phía đông bắc, cách thành phố Hạ Long 30 km, có toạ độ địa lý từ 20o58'10 - 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' - 107o23'50 kinh độ Đông. Phía Đông của thị xã giáp với huyện Vân Đồn, phía tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long, phía Nam giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, và phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên. - Về điều kiện tự nhiên: Thị xã Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 486,45 km², địa hình chủ yếu đồi núi.

Đồi núi chiếm 55,4% diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3%. Ngoài biển là hàng trăm hòn đảo nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oc,độ ẩm trung bình 84,6%, lượng mưa hàng năm 2.307 mm, mùa đông thường có sương mù. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài nguyên thiên nhiên: Trữ lượng khoáng sản chủ yếu của Cẩm Phả là than đá,với tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than của toàn tỉnh Quảng Ninh.

Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc thị xã chở than đến Nhà máy Tuyển Than Cửa Ông, các mỏ than lớn như Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất. Ngoài ra, các khoáng sản khác như antimon, đá vôi, nước khoáng đều là những tài nguyên quí hiếm. Vùng núi đá vôi ở Cẩm Phả là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng, với Nhà máy xi măng Cẩm Phả. Thị xã Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 50 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt trong bờ, sản lượng thấp.

Đó là những điều kiện thuận lợi để thị xã Cẩm Phả phát triển đa ngành, đa lĩnh vực… Tài nguyên Du lịch: Nhắc đến thị xã Cẩm Phả ai ai cũng biết đó là mảnh đất với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, mê đắm lòng người. Đền Cửa Ông mở hội vào tháng Giêng, hàng năm thu hút hàng vạn khách tham quan, chiêm bái. Cẩm Phả còn có nhiều cảnh đẹp. Động Hang Hanh có cửa vào từ vịnh đi thuyền suốt lòng núi chưa được khai thác.

Gần đây ở khu đảo Vũng Đục phát hiện những hang động kỳ thú. Ngoài Hòn Hai - Đảo Nêm trong vịnh Bái Tử Long đã hình thành một khu nghỉ, ngơi của công nhân mỏ. Cẩm Phả còn có đảo Rều, một cơ sở nuôi thả hàng nghìn con khỉ vừa là nguồn nguyên liệu cho y dược vừa là một địa chỉ tham quan rất hấp dẫn. Tài nguyên đất, nước: Cẩm Phả có ít đất nông nghiệp: 1.196ha, trong đó đất trồng rau mầu và cấy lúa 434ha, đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản 315ha.

Đất lâm nghiệp khá rộng, 13.504ha, trong đó rừng tự nhiên 12.094ha, xưa có nhiều lâm sản nay rừng đã suy kiệt, đất có rừng trồng 1. Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 50km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt ven bờ, sản lượng thấp, đang đóng thêm tầu có công suất lớn để đánh cá tuyến khơi. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Địa giới hành chính: Đầu thế kỷ 19, Cẩm Phả là một xã thuộc tổng Hà Môn châu Tiên Yên. Năm 1831, vua Minh Mệnh tách Cẩm Phả làm một tổng thuộc huyện Hoành Bồ, gồm 5 phố và và 3 xã, trong đó 5 phố là Hạ Lâm, Núi Trọc, Ngã Hai, Mông Dương, Vạn Hoa và 3 gồm có Cẩm Phả, Đại Lộc, Quang Hanh.

Năm 1884, Vua Tự Đức kí hiệp ước Patơnôt công nhận sự bảo hộ của Pháp. Thay mặt triều đình nhà Nguyễn tổng đốc Tôn Thất Bật đã ký kết hiệp ước, bán vùng Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai,Cẩm Phả cho Pháp với giá 25 vạn đồng. Ngày 24 tháng 8 năm 1886, Bavieaupour thành lập công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ độc quyền chiếm đoạt và khai thác than vùng Hòn Gai, Cẩm Phả, Mông Dương. Năm 1888, Pháp cho tiến hành thăm dò khai thác than trên cơ sở những lò cũ của dân bản xứ là người Sán Dìu, Thanh Phán, Kinh, Tày, Hoa.

Năm 1936, Pháp lập châu Hà Tu bao gồm cả tổng Cẩm Phả và Hà Tu, tách khỏi Hoành Bồ trực thuộc tỉnh Quảng Yên. Năm 1940, Pháp bỏ châu Hà Tu, lập châu Cẩm Phả bao gồm phía đông Hoành Bồ, phần lớn huyện Ba Chẽ và đảo Cái Bầu. Chính quyền nhân dân Cẩm Phả, Cửa ông được thành lập. Lúc này Cẩm Phả và Cửa Ông trực thuộc khu đặc biệt Hòn Gai.

Tháng 11 năm 1946, quân Pháp quay lại chiếm đóng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hai thị xã Cẩm Phả, Cửa Ông hợp thành liên thị xã. Ngày 22 tháng 4 năm 1955, Pháp rút khỏi Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả được hoàn toàn giải phóng. Ngày 12 tháng 11 năm 1956, thị xã Cẩm Phả chính thức được thành lập trực thuộc khu Hồng Quảng.

Sau năm 1975, Cẩm Phả trở thành huyện của tỉnh Quảng Ninh. Năm 1981, giải thể một số thị trấn thuộc thị xã Cẩm Phả và thành lập thêm các phường, xã. Tháng 3 năm 1994, Quần đảo Cô Tô tách ra khỏi huyện Cẩm Phả để thành lập huyện Cô Tô, phần còn lại của huyện Cẩm Phả đổi tên thành 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện Vân Đồn. Sau lại tách ra thành lập thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn mới.

Ngày 21 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP, thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả. Thị xã Cẩm Phả hiện có 16 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 13 phường và 03 xã (có Phụ lục số 1 kèm theo). - Về dân số: Tính đến ngày 21 tháng 02 năm 2012, dân số tại thị xã Cẩm Phả có 195.800 người, với mật độ dân số đạt 403 người/km², dân số Cẩm Phả có đặc trưng rất riêng so với các địa phương khác là nam luôn nhiều hơn nữ (nam chiếm 59% dân số nữ chiếm 47%). Hầu hết dân số ở đây là người Kinh chiếm 95,2% dân số, còn lại đáng kể là người Sán Dìu với 3,9%, các dân tộc khác sống xen kẽ rải rác trong địa bàng toàn thành phố.

Người Cẩm Phả phần lớn là công nhân ngành than, có nguồn gốc từ vùng đồng bắc Bắc Bộ. - Về kinh tế - Xã hội: Với mục tiêu xây dựng Cẩm Phả trở thành một đô thị phát triển, trung tâm công nghiệp khai thác khoáng sản, nhiệt điện, cảng biển, đóng tàu, cơ khí chế tạo máy, sản xuất vật liệu xây dựng và du lịch, nhiều năm nay, tỉnh và thị xã Cẩm Phả đã quan tâm quy hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường sống của nhân dân. Nhờ đó, bộ mặt đô thị của Cẩm Phả ngày càng khang trang, sạch đẹp; đảm bảo các yếu tố cần thiết nhằm xây dựng một đô thị hiện đại trong tương lai. Cụ thể, Cẩm Phả có hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường sắt nội thị thuận lợi cho việc giao thương và vận chuyển hàng hoá.

Đó là quốc lộ 18A qua địa bàn dài gần 70km, tỉnh lộ 326 từ Hoành Bồ đi Mông Dương, tỉnh lộ 329 từ Mông Dương đi Ba Chẽ; hệ thống đường chính đô thị tổng chiều dài 156,2km, đường nhánh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đô thị tổng chiều dài 152,63km; tuyến đường sắt chuyên dùng dài 40km phục vụ vận tải than. Bên cạnh đó, trên địa bàn có cảng quốc gia Cửa Ông, cảng Hòn Nét phục vụ xuất khẩu than, đảm bảo các tàu có trọng tải 6 - 10 vạn tấn ra vào thuận tiện; có 6 cảng nội địa phục vụ xuất nhập hàng hoá, vật liệu, du lịch .Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư theo quy hoạch, đáp ứng các tiêu chuẩn đô thị, phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương. Cẩm Phả cũng ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nâng cao năng lực quản lý đô thị; từ năm 2005 đến nay, tổng mức đầu tư cho các lĩnh vực này khoảng 40. Song song với đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, Cẩm Phả đã đầu tư có hiệu quả cho nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, phát triển dân trí.

“Hiện Cẩm Phả có 4 bệnh viện (2 bệnh viện đa khoa hạng II, 1 bệnh viện chuyên khoa, 1 bệnh viện điều dưỡng); 1 trung tâm y tế dự phòng; 16 trạm y tế xã, phường; 15 trạm y tế của doanh nghiệp; có 150 cơ sở dịch vụ y, dược tư nhân; đạt 33,2 giường/vạn dân, 10 bác sĩ/vạn dân; 100% phường, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Về Giáo dục và đào tạo, hiện tỷ lệ học sinh lên lớp từ 93 - 99% trở lên, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học luôn ở mức cao trong tỉnh. Hiện trên địa bàn có 60 trường từ mầm non tới THPT (50% đạt chuẩn quốc gia); 1 trung tâm dạy nghề, 1 trung tâm hướng nghiệp giáo dục thường xuyên, 2 trường cao đẳng, 1 cơ sở đại học, 1 cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật, hàng năm thu hút trên 2.000 học sinh, sinh viên; 100% xã, phường có trung tâm học tập cộng đồng; 100% giáo viên đạt chuẩn (50% giỏi các cấp)” [37; tr. Lĩnh vực văn hoá - thông tin - thể thao cũng có những bước tiến dài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ