Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

Chuyên khảo phân tích 73 lê thị phương uyên, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Kinh Tế

2022

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT SƠ LƯỢC LUẬN VĂN KHOA HỌC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

I. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

I.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu

I.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

I.4. Phương pháp nghiên cứu

I.5. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những vấn đề chung về thuế

1.2. Công tác kiểm tra thuế

1.3. Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4. Quy trình và tiêu chí đánh giá công tác kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.5. Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số đơn vị địa phương

1.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CỤC THUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1. Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và tình hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2. Khái quát về cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.3. Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.4. Kết quả đạt được trong công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV tại Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.5. Đánh giá kết quả kiểm tra thuế đối với DNNVV tại Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.6. Đánh giá chung về công tác kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CỤC THUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

3.1. Định hướng công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.2. Hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV tại Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

3.3. Tăng cường lực lượng cho bộ phận kiểm tra thuế

3.4. Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ kiểm tra thuế

3.5. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu người nộp thuế phục vụ hiệu quả cho công tác kiểm tra

3.6. Vận dụng một số kỹ năng trong công tác kiểm tra thuế tại trụ sở NNT

3.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

III. PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

III.1. Kiến nghị

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1 VÀ 2

BẢN GIẢI TRÌNH NỘI DUNG CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác kiểm tra thuế tại Thừa Thiên Huế

Công tác kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước. Tại Thừa Thiên Huế, công tác này đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả thu ngân sách từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong quản lý thuế.

1.1. Định nghĩa và vai trò của kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là hoạt động nhằm đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp. Vai trò của nó không chỉ giúp phát hiện sai phạm mà còn nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế.

1.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thừa Thiên Huế

DNNVV tại Thừa Thiên Huế đang ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng vào nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo nhiều thách thức trong công tác quản lý thuế.

II. Những thách thức trong công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV

Mặc dù công tác kiểm tra thuế đã có những cải tiến, nhưng vẫn còn nhiều thách thức lớn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc tuân thủ các quy định thuế, dẫn đến tình trạng nợ thuế và gian lận thuế.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập thông tin

Việc thu thập thông tin chính xác từ các DNNVV là một thách thức lớn. Nhiều doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ hồ sơ, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc thực hiện kiểm tra.

2.2. Tình trạng gian lận thuế

Gian lận thuế vẫn diễn ra phổ biến, đặc biệt là trong các DNNVV. Các hành vi này không chỉ gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn làm giảm tính công bằng trong môi trường kinh doanh.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế cho DNNVV

Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và phù hợp với thực tiễn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế là một trong những giải pháp quan trọng.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra thuế

Công nghệ thông tin có thể giúp cải thiện quy trình kiểm tra thuế, từ việc thu thập dữ liệu đến phân tích và đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ thuế

Đào tạo cán bộ thuế về các kỹ năng kiểm tra và quản lý thuế là cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện công tác kiểm tra thuế không chỉ giúp tăng cường nguồn thu ngân sách mà còn nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của các DNNVV. Các giải pháp đề xuất đã được thử nghiệm và cho thấy hiệu quả tích cực.

4.1. Kết quả đạt được từ công tác kiểm tra thuế

Công tác kiểm tra thuế đã giúp phát hiện nhiều trường hợp vi phạm, từ đó tăng cường tính minh bạch và công bằng trong quản lý thuế.

4.2. Ứng dụng các giải pháp vào thực tiễn

Các giải pháp đã được áp dụng tại Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho công tác kiểm tra thuế

Công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV tại Thừa Thiên Huế cần tiếp tục được cải thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế địa phương. Định hướng tương lai sẽ tập trung vào việc áp dụng công nghệ và nâng cao năng lực cho cán bộ thuế.

5.1. Định hướng phát triển công tác kiểm tra thuế

Cần xây dựng một hệ thống kiểm tra thuế hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý

Hợp tác giữa các cơ quan quản lý thuế và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề chung về thuế 1.1 Khái niệm thuế Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần phải có những nguồn tài chính để chi tiêu cho việc duy trì và củng cố bộ máy quản lý Nhà nước, chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng về sự nghiệp, văn hóa, y tế, giáo dục trước mắt và trong lâu dài. Tất cả những nhu cầu chi tiêu thường xuyên và cần thiết đó của Nhà nước cần một nguồn ngân sách mà nguồn ngân sách ấy được huy động tập trung từ hình thức bắt buộc dân phải đóng góp từ một phần thu nhập của mình. Hình thức đóng góp ấy chính là thuế.

Như vậy Thuế luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản chất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế. Cho đến nay, thuế được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau, vì vậy chưa có một định nghĩa chung nhất về thuế. Karl Marx cho rằng: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước.

Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn Tài chính công (Gaston Jeze, “ Finances Puliques”, 1934) nêu ra định nghĩa: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước.” Theo từ điển Tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.” 7 Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Có khá nhiều định nghĩa về thuế dựa trên các góc độ nhìn nhận khác nhau. Chung lại từ các quan niệm về thuế nói trên, có thể nêu lên khái niệm khách quan tổng quát về thuế như sau: “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của xã hội.2 Đặc điểm của thuế: Thứ nhất, Thuế là biện pháp tài chính mang tính bắt buộc và tính pháp lý cao Tài chính được hiểu là quá trình hình thành, tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ hay nói cách khác tài chính là quá trình phân phối giá trị giữa các chủ thể trong nền kinh tế với biểu hiện bên ngoài là các hoạt động thu, chi bằng tiền. Trong quan hệ thu nộp thuế, các chủ thể đã sử dụng nguồn tiền tệ của mình để hình thành quỹ tiền tệ của nhà nước, quỹ ngân sách nhà nước, chính vì vậy thuế là một quan hệ tài chính.

Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự. Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt.

Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân. Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định. 8 Thứ hai, Thuế mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh đó là: sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế mang tính chất đối giá, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế. Có nghĩa là đây là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó như là một khoản vay mượn.

Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Thuế có vai trò quan trọng, là công cụ đóng góp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường, cụ thể: - Thuế là công cụ huy động chủ yếu nguồn lực cho Ngân sách Nhà nước Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu và lâu dài của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách nhà nước. Ngân sách có thể huy động bằng nhiều cách khác nhau như: vay mượn, bán tài nguyên quốc gia, viện trợ nước ngoài,… nhưng không có nguồn thu nào thực sự bền vững. Chỉ có thuế là công cụ quan trọng để phân phối thu nhập theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.

Việc các chu thế nộp thuế, thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng. Một nguồn tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế trở thành nguồn thu chủ yếu, là một bộ phận cơ bản của sự phát triển tài chính bền vững của quốc gia. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và sẽ gia tăng khi nền kinh tế ngày càng phát triển.

- Thuế tham gia vào việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô Một trong những nhu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách nhà nước mà yêu cầu cao 9 hơn là góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, khuyến khích mở rộng lưu thông mở rộng thị trường một cách lành mạnh, vừa khuyến khích giao lưu hàng hóa, vừa đấu tranh hạn chế mua bán qua nhiều khâu trung gian, theo sự định hướng phát triển có kế hoạch của đất nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh sự mất cân đối trong nền kinh tế quốc dân. Hướng vào xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. - Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập.

Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi của pháp luật thuế và cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất… đều có tác động đến thu nhập. Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảo công bằng và bình đẳng trong làm nghĩa vụ và quyền lợi.

Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế hoạt động trong cùng một lĩnh vực và sử dụng thu nhập trong xã hội. Thuế kích mọi công dân, doanh nghiệp trong việc cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và có thu nhập một cách chính đáng. - Thuế là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nộp thuế, các cơ quan quản lý thuế cùng với đối tượng nộp thuế buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn với chế độ chứng từ hóa đơn, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức kinh doanh, cơ cấu tổ chức. Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lý nền kinh tế, trên cơ sở đó có hệ thống pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng trong từng 10 giai đoạn ở tầm vĩ mô cũng như tìm biện pháp hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng nộp thuế ở tầm vi mô.

Mặt khác, cũng thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật thuế, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm trong quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung.4 Chức năng của thuế Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Trong thế kỷ XIX thì đa số các ý kiến cho rằng thuế chỉ nên chủ yếu giữ chức năng tài trợ cho Nhà nước nhưng đến nay thuế còn được sử dụng để đạt nhiều mục tiêu khác nhau, thông thường các nhà kinh tế cho rằng thuế có hai chức năng chủ yếu là: chức năng phân phối và chức năng điều tiết kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ