PHẦN MỞ ĐẦU: 1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam đang từng bước chuyển mình phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức mới. Việt nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO, Tổ chức thương mại thế giới, điều đó đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn để phát triển đầu tư, kinh doanh do thị trường thế giới mở rộng, vị thế cạnh trang bình đẳng, môi trường kinh doanh được cải thiện, hạn ngạch xuất nhập khẩu cũng như hàng rào thuế quan được gỡ bỏ,… Điều này tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương giữa các quốc gia những đồng thời cũng đưa các nhà kinh doanh vào một thị trường quốc tế cạnh tranh vô cùng gay gắt. Trước tình hình đó, vai trò của xúc tiến thương mại đối với các doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng.
Xúc tiến thương mại giúp doanh nghiệp phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường, nắm bắt dự báo xu hướng thị trường kịp thời để kinh doanh hiệu quả hơn.Xúc tiến thương mại là cầu nối đưa doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với khách hàng, với thị trường. Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế thế giới năm 2011 đạt 5,89%, sang năm 2012 có dấu hiệu suy thoái. Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây cũng có những chuyển biến đáng kể, do đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam càng trở nên khốc liệt. Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là daonh nghiệp vừa và nhỏ nên bị hạn chế bới nguồn vốn hạn hẹp, nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý còn yếu.
Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải có chiến lược kinh doanh dài hạn phù hợp để tổn tại và phát triển trên thị trường. Marketing nói chung và xúc tiến nói riêng là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho các doanh nghiệp hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng mức để xây dựng cho mình một chính sách xúc tiến thương mại hiệu quả. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tốc 6 Luan van độ đô thị hóa của Việt Nam ngày càng tăng nhanh.
Theo dự báo của Việt Nam vào năm 2020 tốc độ đô thị hóa sẽ đạt khoảng 40% tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân. Các công trình đô thị mọc lên ngày càng nhiều, đây là cơ hội cho việc phát triển dịch vụ lắp đặt hệ thống điện cho công ty. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp trong nước đây cũng là một thách thức lớn do các doanh nghiệp nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam. Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, hầu hết các doanh nghiệp đều phải cố gắng mọi mặt để tôn tại và chiếm lĩnh thị trường.
Công ty Cổ phần Giải pháp và thiết bị Công nghiệp Việt Nam là công ty kinh doanh các thiết bị điện và các dịch vụ liên quan,… Qua quá trình quan sát, tìm hiểu và nghiên cứu thực tế taị doanh nghiệp, tôi nhận thấy hình thức thực tế tại doanh nghiệp, tôi nhận thấy hình thức xúc tiến chủ yếu mà doanh nghiệp tiến hành đó là marketing trực tiếp và xúc tiến bán. Hình thức này thu hút được khách hàng những chi phí khá lớn chưa đem lại hiệu quả. Do đó, công ty cần phát triển các hoạt động xúc tiến thương mại khác để thông tin với khách hàng về sản phẩm, xây dựng hình ảnh về công ty, từ đó nhằn tăng doanh số, thu lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thực tế cấp thiết đó đặt ra cho doanh nghiệp, từ những lí do trên em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng hoạt động Xúc tiến thương mại đối với quá trình lắp đặt hệ thống điện của Công ty Cổ phần Giải pháp và Thiết bị Công nghiệp Việt Nam”.
Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước: Phát triển hoạt động xúc tiến thương mại đến nay không còn là một vấn đề mới mẻ, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu trước đây về đề tài này. Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của nó đối với hoạt động bán hàng nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung. Trong quá trình học tập ở trường, sinh viên khoa Marketing Thương Mại nói chung và em nói riêng đã có những nhận thức nhất định về xúc 7 Luan van tiến thương mại và tầm quan trọng của nó. Trong một vài năm gần đây đã có một số sinh viên tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này như: - Bài luận văn : “ Phát triển hoạt động xúc tiến thương mại đối với sản phẩm bê tông của công ty cổ phần đầu tư và bê tông Thịnh Liệt trên thị trường Hà Nội”.
Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Hằng lớp K41C3, khoa Kinh doanh thương mại, năm 2009. Bài luận văn này đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết như bản chất xúc tiến thương mại, các công cụ xúc tiến thương mại,… phân tích được thực trạng cũng như hiệu quả hoạt động của các công cụ xúc tiến thương mại tại công ty và đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến thương mại đối với sản phẩm bê tông tại công ty cổ phần đầu tư và bê tông Thịnh Liệt. - Bài luận văn: “Phát triển hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm đầu phát HD của công ty TNHH phát triển công nghệ và thương mại Gia Long” của sinh viên Võ Thị Kim Vân lớp K44C5, khoa Marketing, năm 2012. Bài luận văn cũng đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết về xúc tiến thương mại; đưa ra thực trạng cũng như đề xuất giải pháp phát triển các hoạt động xúc tiên cho nhóm sản phẩm đồ gia dụng của công ty TNHH phát triển công nghệ và thương mại Gia Long.
Tuy nhiên, các bài luận văn trên cũng như các bài luận văn của những năm trước về phát triển hoạt động xúc tiến thương mại chưa có bài luận văn nào nghiên cứu về dịch vụ lắp đặt hệ thống điện. Như vậy các công trình nghiên cứu những năm trước chỉ đứng trên phương diện ngành kinh doanh các sản phẩm cụ thể không phù hợp với dịch vụ lắp đặt hệ thống điện. Trong quá trình thực tập, tham gia tìm hiểu tại công ty cổ phần Giải pháp và Thiết bị Công nghệ Việt Nam, tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào về các các vấn đề của công ty cũng như phát triển hoạt động xúc tiến thương mại cho quá trình lắp đặt hệ thống điện tại công ty. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, công ty nên xây dựng các chương trình xúc tiến hiệu quả hơn để có thể phát triển và đứng vững trên thị trường.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, đề tài của tôi là đề tài duy nhất và không có sự trùng lặp nghiên cứu về 8 Luan van phát triển hoạt động xúc tiến thương mại tại công ty cổ phần Giải pháp và Thiết bị Công nghiệp Việt Nam đối với quá trình lắp đặt hệ thống điện. Các vấn đề nghiên cứu: - Đối tượng –nêu thực trạng hoạt động XTTM ở công ty VISCOM - Hiệu quả công cụ XTTM công ty đang áp dụng - Nghiên cứu để đưa ra giải pháp phát triển hoạt động XTTM 4. Mục tiêu Nghiên cứu - Mục tiêu chung: đề xuất giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến thương mại đối với quá trình lắp đặt hệ thống điện tại công ty Cổ phần giải pháp và thiết bị công nghiệp Việt Nam - Mục tiêu cụ thể: + Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phát triển hoạt động xúc tiến thương mại ở công ty kinh doanh. + Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến thương mại tại công ty Cổ phần giải pháp và thiết bị công nghiệp Việt Nam.
Từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế còn tồn tại của hoạt động xúc tiến thương mại của c ông ty cho quá trình lắp đặt hệ thống điện. + Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến thương mại cho quá trình lắp đặt hệ thống điện của công ty. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi nội dung: Về sản phẩm: c ông ty c ó nhiều dịch vụ nhưng chỉ tập trung vào quá trình lắp đặt hệ thống điện. Về khách hang: khách hang của công ty bao gồm cả khách hang cá nhân vầ nhà thầu tuy nhiên chủ yếu vẫn là các nhà thầu.
- Phạm vi không gian hoạt động: trong phạm vi thị trường toàn quốc - Phạm vi thời gian: trong 3 năm trở lại đây, đặc biệt 4 tháng từ 1/2017 đến 4/2017 - 9 Luan van 6. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp luận: Duy vật biện chứng Phân tích kinh tế Tư duy hệ thống - Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Thu thập dữ liệu Các dữ liệu thứ cấp cần thu thập bao gồm: - Các số liệu về doanh thu, lợi nhuận của công ty trong 3 năm từ 2014 đến 2016 - Các công cụ xúc tiến thương mại công ty đang áp dụng và ngân sách chi cho các hoạt động xúc tiến thương mại, phần trăm ngân sách phân bổ cho từng công cụ. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: - Các dữ liệu thứ cấp liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động xúc tiến thương mại của công ty thu thập ở bộ phận kế toán và bộ phận kinh doanh của công ty, từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty. - Tình hình hoạt động của một số đối thủ cạnh tranh được thu thập thong qua việc tìm kiếm, tổng hợp thông tin trên các phương tiện truyền thông như báo, tạp chí, intenet,… Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Các dữ liệu sơ cấp cần thu thập: - Những thông tin phản hồi từ phía khách hàng về các hoạt động xúc tiến thương mại của công ty đối qu á tr ình lắp đặt hệ thống điện.
- Những đánh giá của nhân viên công ty về các hoạt động xúc tiến thương mại của công ty. - Những đánh giá của nhà quản trị về hoạt động xúc tiến thương mại của công ty hiện nay.