Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ viên chức y tế dự phòng. Khái niệm, vai trò của đội ngũ viên chức y tế dự phòng: 1. Khái niệm viên chức và viên chức y tế dự phòng: 1. Khái niệm viên chức: Trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thuật ngữ công chức, viên chức chưa được sử dụng, thay vào đó là thuật ngữ nhân viên, được thể hiện tại các điều 37, 47, 51, 52.
Điều 52 Hiến pháp năm 1946 quy định Chính phủ có quyền hạn “Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn”. Thuật ngữ nhân viên còn được sử dụng để phân biệt các đối tượng khác nhau phục vụ tại các cơ quan nhà nước. Đến ngày 20 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 76 Quy chế công chức Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định: “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước” (Điều 1). Như vậy chỉ những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước mới là công chức, còn khái niệm viên chức vẫn chưa được đề cập đến.
Sau năm 1954 do nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực cho bộ máy nhà nước ngày càng tăng, do thực tiễn khi đó không có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức. Tình hình đó đòi hỏi phải có một quan niệm rộng hơn về công chức nhà nước, bao gồm các đối tượng phục vụ trong các cơ quan nhà nước và trong bộ máy của các tổ chức xã hội, đoàn thể. Vì vậy, chế độ công chức dần được thay thế bằng chế độ “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, cơ quan đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhà nước. Tất cả đều thuộc biên chế nhà nước, hưởng lương theo những thang bậc định sẵn và được gọi là “cán bộ, công nhân viên chức nhà 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước” chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công chức, viên chức.
Điều này được thể hiện tại Điều 6 Hiến pháp năm 1959 “Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”. Về sau, thuật ngữ viên chức được sử dụng chính thức trong nhiều văn bản pháp luật thay thế cho thuật ngữ công chức trước đó, như Nghị định số 23/CP ngày 30/6/1960 của Chính phủ về việc phân loại tổ chức, phân loại chức vụ của cán bộ và viên chức thuộc khu vực hành chính – sự nghiệp, Nghị định số 97/CP ngày 02/5/1974 của Hội đồng Chính phủ hướng dẫn lập và sử dụng sổ lao động cho công nhân viên chức nhà nước. Đến Hiến pháp 1980, thuật ngữ nhân viên nhà nước bắt đầu được sử dụng chính thức, được thể hiện tại các điều 8, 10, 12, 59. Điều 8 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Tất cả các cơ quan Nhà nước và nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân.
Điều 12 quy định: “Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên Nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật.” hoặc quy định tại Điều 59: “Công nhân, viên chức khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội”. Như vậy, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước được gọi là cán bộ, viên chức trừ đối tượng là công nhân. Thuật ngữ viên chức tiếp tục được cụ thể hoá tại Quyết định số 117/CP ngày 15/7/1982 của Chính phủ quy định danh mục số 1 về các chức vụ viên chức nhà nước, được phân thành: viên chức lãnh đạo (chia thành 2 nhóm); viên chức chuyên môn (chia thành 5 nhóm); viên chức thực hành nghiệp vụ kỹ thuật (chia thành 3 nhóm) và một số văn bản cải cách tiền lương đối với viên chức nhà nước được ban hành năm 1985. Các văn bản này là cơ sở cho sự hình thành chế độ viên chức theo chức nghiệp.
Tuy nhiên chế độ viên chức theo chức nghiệp giai đoạn này đã bộc lộ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những hạn chế, đó là không đề cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của viên chức, người viên chức được trả lương theo tiêu chí cơ bản, nhất là phụ thuộc vào thâm niên công tác. Chế độ này không kích thích được việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ viên chức. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), thuật ngữ “cán bộ, viên chức” được sử dụng với nghĩa rất rộng gồm tất cả những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.” (Điều 8), hoặc “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động khác.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 1992 thì những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ và viên chức. Thuật ngữ viên chức được hiểu theo nghĩa rất rộng gồm tất cả những người trong biên chế của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và cả trong tổ chức kinh tế của nhà nước. Để thực hiện và cụ thể hoá Hiến pháp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức (năm 1998). Tuy nhiên Pháp lệnh lại không đi theo hướng sử dụng thuật ngữ cán bộ, viên chức nhà nước mà chỉ dùng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” nói chung và Pháp lệnh cũng không đưa ra định nghĩa riêng cho từng đối tượng “cán bộ”, “công chức”.
Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định chung như sau: “Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; - Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp”. Lần sửa đổi, bổ sung thứ 3 năm 2003 của Pháp lệnh cán bộ, công chức đã đánh dấu một bước tiến mới trong sự điều chỉnh của pháp luật theo hướng chuyên biệt hoá phân biệt công chức và viên chức nhà nước. Trên cơ sở Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003, cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được gọi chung là viên chức.
Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội., hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật. Như vậy, công chức trong các cơ quan nhà nước, ở mức độ nhất định thì hoạt động của họ luôn gắn với quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền lực nhà nước hoặc phục vụ trực tiếp cho thực hiện quyền lực nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, còn hoạt động của các viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước thuần tuý mang tính chuyên môn, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu do chính các đơn vị sự nghiệp tạo nên. Khái niệm viên chức y tế dự phòng: Y học dự phòng là một ngành khoa học về phòng ngừa bệnh tật và tăng cường sức khoẻ. Phạm vi của y học dự phòng rất rộng, bất cứ điều gì liên quan đến sự sống, bệnh tật của con người như đất, nước, không khí, thực phẩm, quần áo, lao động, nghỉ ngơi, giải trí.
đều là đối tượng của y học dự phòng. Qua khái niệm về y học dự phòng có thể thấy vai trò quan trọng của y học dự phòng, trong đó có vai trò của những người làm trong lĩnh vực này đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, pháp luật về công vụ của nhiều nước trên thế giới đều quy định những người làm việc trong các cơ sở y tế công trong lĩnh vực y tế là công chức nhà nước. Như pháp luật về công vụ của Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Xing-ga-po và một số nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản.
Chẳng hạn như theo pháp luật Cộng hoà Pháp, công chức được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền, trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước – công sở tự quản (trong đó có các bệnh viện), nhân viên hành chính trong các đơn vị quân đội và trong Quốc hội.