CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIÊN CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm viên chức Theo Điều 2 Luật Viên chức do Quốc hội ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2010: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [23].
Khái niệm chất lượng viên chức Viên chức là công dân, cá nhân do vậy chất lượng viên chức là tập hợp các yếu tố phản ánh chất lượng cá nhân mỗi viên chức qua ba nhóm thể lực, trí lực và tâm lực. Về thể lực, trước hết thể hiện ở các chỉ tiêu biểu hiện sức khỏe trên phương diện y tế như: chỉ số huyết áp (chỉ số huyết áp tiêu chuẩn là 120/80); chỉ số đường huyết (chỉ số đương huyết tiêu chuẩn là 99, đơn vị tính bằng mg/dl); nồng độ cholestrerol trong máu (chỉ số nồng độ cholestrerol tiêu chuẩn là 200, đơn vị mg/dl); nồng độ triglycerid (nồng độ triglyceride được coi là giới hạn khi từ 150 đến 199 mg/dl); chỉ số hormone do tuyến yên tiết ra (chỉ số lý tưởng là dưới 4,0 mIU/L); chỉ số khối cơ thể - BMI (là chỉ số khối cơ thể. BMI lý tưởng cho mỗi người sử dụng công thức cân nặng, chia cho bình phương chiều cao để cho biết ai đó béo hay gầy. Nếu ai đó có BMI nhỏ hơn 18,5; người đó gầy và sẽ đối mặt với vấn đề trục trặc ở khả năng sinh sản, bệnh thiếu máu hay nguy cơ loãng xương.
Ngược lại, BMI cao, từ 25-29,9 được coi là thừa cân, cao hơn nữa là dạng béo phì, từ đó sinh ra đủ chứng bệnh); chỉ số protein phản ứng C (CPR) có trong máu. Ngoài các chỉ số sức khỏe trên phương diện y tế, còn có các tiêu chí khác cũng phản ánh, biểu hiện về sức khỏe. Theo giáo sư người Nhật Bản Georges Ohsawa (1893 - 1996) người khỏe là người không thấy mệt nhọc; biết ăn ngon; ngủ ngon giấc; trí nhớ bền bỉ; vẻ mặt vui tươi; xét đoán và hành động nhanh nhẹn, phong nhã. Những tiêu chí có thể áp dụng được trong đánh giá chất lượng sức khỏe của viên chức như: không thấy mệt nhọc, trí nhớ bền bỉ, vẻ mặt vui tươi, hành động nhanh nhẹn.
Còn có nhiều các dấu hiệu khác để nhận biết về sức khỏe cá nhân con người như: sắc mặt hồng hào; tiếng nói to, rõ ràng; tóc mượt mà; hình thể vừa phải. Hoặc không bị mất ngủ thường xuyên, đau đầu, trầm cảm, rối loạn tiêu hóa, suy giảm trí nhớ. Phân loại sức khỏe theo thể lực Loại sức khỏe Nam Nữ Chiều cao (cm) Cân nặng (kg) Chiều cao (cm) Cân nặng (kg) 1. Kém ≤152 ≤39 ≤146 ≤37 Nguồn: Thông tư số 36/TTLT-BYT-BQP ngày 17/10/2011 của BYT-BQP Như vậy để biết sức khỏe của viên chức, người quản lý không chỉ căn cứ vào các chỉ số sức khỏe thể hiện trên giấy khám sức khỏe mà còn phải kết hợp với các tiêu chí khác để “tri giác” về sức khỏe của viên chức dưới quyền, do mình quản lý theo đó có những chế độ quản lý, sử dụng phù hợp.
Về trí lực, biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng công tác. Đối với trình độ, có chuyên môn, nghiệp vụ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ); lý luận chính trị (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); quản lý nhà nước (theo các chương trình chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự); tin học (trung cấp trở lên, chứng chỉ A,B,C); ngoại ngữ (trung cấp trở lên, chứng chỉ A,B,C). Đối với năng lực có năng lực tư duy và năng lực thực thi, thừa hành; trong năng lực tư duy chia thành các cấp độ khác nhau như: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo; năng lực thực thi, thừa hành theo yêu cầu, tiêu chuẩn của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp. Đối với kỹ năng có: giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, lập kế hoạch, phân công và phối hợp, làm việc nhóm, điều hành hội họp.
Ngoài ra đối với viên chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý (ví dụ: cấp vụ, cấp phòng) còn cần có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; tập hợp, đoàn kết viên chức. Về tâm lực, biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong công tác. Thái độ và trách nhiệm đều có điểm chung là trạng thái tâm lý (bên trong, chủ quan) của viên chức, trạng thái tâm lý này có thể là tích cực hoặc không tích cực nhưng dù ở trạng thái nào thì cũng phải thể hiện ra bên ngoài (khách quan, bên ngoài) bằng các hành vi, hành động cụ thể như: lời nói, việc làm, cử chỉ. Không chỉ tương đồng trên các phương diện nêu trên, giữa thái độ và trách nhiệm còn có các yếu tố tác động chung, theo đó tạo nên trạng thái tích cực hay không tích cực trong lời nói, việc làm, cử chỉ của viên chức, các yếu tố này chia thành hai nhóm vật chất (tiền lương, tiền thưởng, trang thiết bị làm việc.) và tinh thần (khen thưởng, sự quan tâm, động viên đúng lúc của đồng nghiệp, thủ trưởng.
Nếu như thái độ thiên về trạng thái tâm lý của chủ thể thì trách nhiệm thể hiện tính pháp lý, viên chức có thể 7 có thái độ không tích cực nhưng vẫn phải thực hiện công việc được giao và nếu thực hiện sai, trái, không đạt kết quả sẽ phải chịu trách nhiệm về điều đó. Đây là điểm khác nhau giữa thái độ với trách nhiệm, cũng qua đó cho thấy trong thực tế quản lý, sử dụng viên chức thì tăng cường áp dụng các biện pháp để nâng cao trách nhiệm cần đi đôi với giáo dục, thuyết phục, động viên để nâng cao thái độ, tích cực nghề nghiệp của viên chức. Nếu như trách nhiệm thể hiện tính pháp lý, chịu sự chi phối nhiều về pháp lý thì thái độ chịu sự chi phối, ảnh hưởng của tâm lý, khí chất của mỗi người, đây cũng là điểm khác biệt giữa thái độ với trách nhiệm cần quan tâm khi đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng viên chức. Qua phân tích cho thấy chất lượng viên chức là tập hợp các yếu tố phản ánh thể lực - trí lực - tâm lực của mỗi viên chức để có thể đáp ứng được yêu cầu công việc và đảm bảo cho cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện được mục tiêu đề ra và cũng thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của viên chức trong quá trình công tác.
Khái niệm nâng cao chất lượng viên chức Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân (Nxb Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2006): Nâng cao là “Làm cho tốt hơn lên” [18]. Từ khái niệm trên có thể hiểu nâng cao chất lượng viên chức là làm tăng thêm hơn trước về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của họ nhằm đáp ứng yêu cầu của viên chức trong cơ quan hành chính nhà nước hiện nay. Nâng cao chất lượng viên chức là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng viên chức đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lượng viên chức là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi người viên chức.
Bên cạnh thể lực, trí lực thì chất lượng nguồn nhân lực còn phản ánh tác phong, thái độ, ý thức làm việc của người viên chức. Việc nâng cao chất lượng viên chức sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Như vậy, nâng cao chất lượng viên chức chính là việc hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của viên chức, đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của viên chức sao cho quy mô, tỷ trọng viên chức vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của viên chức thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của viên chức luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc. Các tiêu chí đánh giá chất lượng viên chức 1.
Tiêu chí về trình độ của viên chức Trình độ của viên chức là mức độ đạt được về bằng cấp và mức thành thạo ở lĩnh vực quản lý nhà nước. Căn cứ vào đặc thù hoạt động và phạm vi lĩnh vực công tác, viên chức cần có những trình độ sau: - Trình độ chuyên môn; - Trình độ lý luận chính trị; - Trình độ quản lý nhà nước; - Trình độ tin học, ngoại ngữ. Trình độ chuyên môn là mức độ đạt được về một chuyên môn, một ngành nghề nào đó. Đây là những kiến thức trực tiếp phục vụ cho công việc chuyên môn của công chức, bởi họ là những người thực hiện thường xuyên công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước.
Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được trong hệ thống những kiến thức lý luận về lĩnh vực chính trị. Hệ thống kiến thức này trang bị và củng cố lập trường giai cấp, lập trường quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó giúp cho mỗi viên chức có quan điểm và lập trường đúng đắn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Trình độ quản lý nhà nước là mức độ đạt được trong hệ thống tri thức về lĩnh vực quản lý nhà nước, bao gồm các kiến thức về hệ thống nhà nước, pháp luật, nguyên tắc, công cụ quản lý nhà nước.
Hệ thống kiến thức này giúp cho viên chức hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ của mình là gì và thực hiện như thế nào, hiểu được sự vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và cơ sở nói riêng, từ đó thực thi công việc đúng pháp luật và có hiệu quả. Trình độ tin học, ngoại ngữ là mức độ đạt được về những kiến thức, những kỹ năng trong lĩnh vực tin học, ngoại ngữ.