Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tự chủ tài chính đối với các trƣờng đại học công lập. Chương 2: Thực trạng tự chủ tài chính tại trƣờng đại học Đà Lạt. Chương 3: Một số gợi ý về giải pháp tăng cƣờng tự chủ tài chính đối với trƣờng đại học Đà Lạt. - CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công lập.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động sự nghiệp.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp: HĐSN là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhƣng nó tác động trực tiếp đến lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội.
HĐSN có liên quan đến toàn bộ hoạt động của xã hội loài ngƣời. Mặc dù trong xã hội tồn tại nhiều loại hoạt động khác nhau nhƣng nếu quy theo tính chất thì có hai loại hoạt động lớn là: hoạt động sản xuất kinh doanh và HĐSN. Điều 3 Nghị định số 83/2006/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính, tổ chức sự nghiệp Nhà nƣớc ghi rõ: “Đơn vị sự nghiệp là các đơn vị được thành lập và hoạt động để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một số dịch vụ công (bao gồm các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các đơn vị sự nghiệp khác)”. Sự nghiệp với nghĩa thông thƣờng nhất là chỉ những công việc có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội.
Chính vì vậy trên một phƣơng diện nào đó, khi nói đến HĐSN với nghĩa thƣờng dùng nói đến việc tổ chức thực hiện những công việc có tính lợi ích chung và lâu dài nhất cho cộng đồng xã hội. Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và HĐSN ở chỗ: hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội, mang lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể tổ chức ra hoạt động đó. Ngƣợc lại HĐSN chủ yếu cung cấp các dịch vụ thoả mãn nhu cầu chung, vì lợi ích của cả cộng đồng cả về mặt kinh tế cũng nhƣ xã hội. Từ cách nhìn nhận nhƣ vậy, ngƣời ta coi HĐSN chủ yếu mang ý nghĩa phục - vụ cho hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội.
Những hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh tế gọi là HĐSN kinh tế. Những hoạt động phục vụ cho hoạt động văn hoá xã hội gọi là HĐSN văn hoá xã hội. Nhƣ vậy HĐSN thuộc phạm trù thƣợng tầng kiến trúc nhƣng nó có khả năng điều chỉnh hạ tầng cơ sở.2 Những đặc điểm cơ bản của hoạt động sự nghiệp: - HĐSN gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần, tạo ra “hàng hoá công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội; - HĐSN không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp. Nhà nƣớc tổ chức, duy trì và tài trợ cho các HĐSN để cung cấp những sản phẩm cho thị trƣờng nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng; - HĐSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc với vai trò của mình thực hiện một cách triệt để có hiệu quả các chƣơng trình mục tiêu quốc gia. * HĐSN trong xã hội rất đa dạng, phong phú. Dưới các tiêu thức khác nhau HĐSN có thể được phân loại như sau: - Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các HĐSN đƣợc chia thành: HĐSN kinh tế và HĐSN văn hoá xã hội. + HĐSN kinh tế: là HĐSN phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh đảm bảo cho các ngành kinh tế hoạt động bình thƣờng.
+ HĐSN văn hoá xã hội: là HĐSN phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hoá, sức khoẻ và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân. - Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho HĐSN, HĐSN đƣợc chia thành HĐSN có thu và HĐSN không có thu. + HĐSN có thu: là HĐSN có nguồn tài chính đảm bảo cho chúng hoạt động ngoài việc đƣợc Nhà nƣớc cung cấp còn đƣợc thu một phần dƣới dạng phí, lệ phí và các khoản đóng góp của ngƣời tiêu dùng để không ngừng nâng cao chất lƣợng và mở rộng quy mô hoạt động. - + HĐSN không có thu: là HĐSN do Nhà nƣớc đảm bảo toàn bộ nhu cầu tài chính để hoạt động.
Những hoạt động này thƣờng là những hoạt động thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi. - Căn cứ vào tính chất hoạt động, HĐSN đƣợc chia thành HĐSN thƣờng xuyên và HĐSN không thƣờng xuyên. + HĐSN thƣờng xuyên: là HĐSN đƣợc tổ chức và duy trì hoạt động liên tục, sản phẩm dịch vụ của nó cung cấp ra xã hội luôn có nhu cầu tiêu dùng. + HĐSN không thƣờng xuyên: là HĐSN để thực hiện các chƣơng trình của Chính phủ trong một giai đoạn nhất định.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm thực hiện một chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nƣớc về một hoạt động nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp toàn bộ hay cấp một phần và các nguồn khác đảm bảo chi phí hoạt động thƣờng xuyên theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp.
Trong quá trình hoạt động đƣợc Nhà nƣớc cho phép thu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động [12, tr7]. Theo quy định tại Nghị định số 55/2012/NĐ – CP, ĐVSN công lập đƣợc xác định dựa trên các tiêu chuẩn sau: - Văn bản quyết định thành lập ĐVSN của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng. - Đƣợc Nhà nƣớc cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nƣớc qui định. - Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp.
- Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính.2 Đặc điểm ĐVSN công lập - ĐVSN công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận Các ĐVSN đƣợc thành lập để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Nhà nƣớc duy trì, tổ chức, tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho xã hội nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng. Trong quá trình hoạt động, ĐVSN có thể đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí hoặc tự trang trải kinh phí, nhƣng không vì mục đích kiếm lời. Các sản phẩm của ĐVSN công lập nếu cần đƣợc “khuyến dụng”, Nhà nƣớc có thể đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng.
Trong trƣờng hợp có thu tiền của ngƣời tiêu dùng thì cũng chỉ thu nhằm bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng. Tuy nhiên, xã hội đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của các ĐVSN đƣợc hiểu ở hai khía cạnh: chất lƣợng phục vụ và tiết kiệm nguồn lực cho xã hội. - Sản phẩm của các ĐVSN công lập là sản phẩm mang tính lợi ích chung và lâu dài Sản phẩm, dịch vụ do ĐVSN công lập tạo ra chủ yếu là những giá trị về trí thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội…, là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng. - HĐSN trong các ĐVSN công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc tổ chức, duy trì hoạt động sự nghiệp để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Để thực hiện các nhiệm vụ này, trong mỗi thời kỳ Nhà nƣớc có các chủ trƣơng, chính sách, có các chƣơng trình mục tiêu kinh tế xã hội nhất định nhƣ: chƣơng trình xóa mù chữ, chƣơng trình phòng chống AIDS, chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, chƣơng trình nâng cao trình độ ngoại ngữ trong giáo dục quốc dân… Các chƣơng trình này chỉ có Nhà nƣớc với vai trò của mình, thông qua các đơn vị sự nghiệp công lập để thực - hiện một cách đầy đủ và hiệu quả, nhằm mang lại lợi ích cho ngƣời dân. - ĐVSN công lập được tự chủ tài chính. ĐVSN công lập đƣợc chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, đƣợc ổn định kinh phí hoạt động thƣờng xuyên do NSNN cấp đối với ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí theo định kỳ 3 năm và hàng năm đƣợc tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định.
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của ĐVSN là sản phẩm có tính phục vụ, không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc trong một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan toả.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập - Phân loại ĐVSN công lập theo nguồn thu: Theo điều 9 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc phân thành 3 loại: ĐVSN tự đảm bảo chi phí hoạt động; ĐVSN tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động. Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị sự nghiệp xác định theo công thức: Mức tự đảm bảo chi phí hoạt Tổng số nguồn thu sự động thƣờng xuyên của = x 100% nghiệp Tổng chi ĐVSN HĐSN + ĐVSN công lập tự đảm bảo chi phí hoạt động: ĐVSN có nguồn thu đảm bảo đƣợc toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. Những ĐVSN này có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%.