CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng Khách hàng Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: Việc phân loại các doanh nghiệp thành các phân khúc doanh nghiệp nhỏ hay lớn phụ thuộc vào nhiều tiêu chí khác nhau như doanh thu, tổng tài sản, số lượng lao động… để xác định. Tuy nhiên mỗi quốc gia tùy thuộc theo tính chất, đặc điểm nền kinh tế, tùy theo tốc độ phát triển có thể đưa ra các tiêu chí, giá trị các tiêu chí xác định DNNVV (Ví dụ: Ở EU, một doanh nghiệp có ít hơn 250 lao động được coi là DNNVV, nhưng ở Mỹ, số lượng lao động của DNNVV ít hơn 1200 lao động; tại Canada ít hơn 500 lao động).
Tiêu chí xác định DNNVV của mỗi quốc gia khác nhau, do đó, xác định DNNVV không có tính cố định mà có xu hướng thay đổi theo tính chất hoạt động, mục đích của việc xác định và tốc độ phát triển của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, khái niệm DNNVV được quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó có thể hiện các tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp theo các tiểu phân khúc, chi tiết như sau: 5 Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Nông Nông Nông nghiệp, lâm nghiệp, lâm nghiệp, lâm Tiêu chí Thương nghiệp, Thương nghiệp, thủy Thương mại, nghiệp, thủy mại, dịch thủy sản và mại, dịch sản và công dịch vụ sản và công vụ công vụ nghiệp, xây nghiệp, xây nghiệp, xây dựng dựng dựng Bình Số lao Bình quân Bình quân Bình quân Bình quân Bình quân quân năm động năm không năm không năm năm không năm không không tham gia quá 10 quá 100 không quá quá 200 quá 10 người quá 100 BHXH người người 50 người người người Tổng ≤ 50 tỷ ≤ 100 tỷ ≤ 200 tỷ ≤ 300 tỷ doanh ≤ 3 tỷ đồng ≤ 10 tỷ đồng đồng đồng đồng đồng thu năm Tổng ≤ 20 tỷ ≤ 50 tỷ ≤ 100 tỷ ≤ 100 tỷ nguồn ≤ 3 tỷ đồng ≤ 3 tỷ đồng đồng đồng đồng đồng vốn - Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp được xác định: + Theo hệ thống ngành kinh tế mới nhất ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg. + Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực thì xác định lĩnh vực hoạt động theo lĩnh vực có doanh thu cao nhất. + Trường hợp không xác định được lĩnh vực có doanh thu cao nhất, xác định căn cứ vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất.
- Số lao động tham gia BHXH là toàn bộ lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dung, trả lương tham gia BHXH. - Tổng doanh thu của năm là tổng doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ thuần của doanh nghiệp. Xác định dựa trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm hoặc trên 01 năm nhưng chưa phát sinh doanh thu, doanh nghiệp căn cứ vào tiêu chí tổng nguồn vốn, số lao động để xác định thuộc quy mô nào.
6 - Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định trên số liệu bảng cân đối kế toán của Báo cáo tài chính năm trước đó. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm, tổng nguồn vốn xác định dựa vào bảng cân đối kế toán cuối quý liền kề tính tới thời điểm doanh nghiệp đăng ký hưởng hỗ trợ. Trong phạm vi luận văn này, DNNVV được định nghĩa theo quy định của Ngân hàng TMCP Quân đội là doanh nghiệp có doanh thu năm gần nhất nhỏ hơn 1000 tỷ đồng (Căn cứ vào báo cáo tài chính nội bộ/nộp cơ quan thuế/kiểm toán). Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa: - DNNVV có số lượng lớn chiếm 95% số lượng doanh nghiệp cả nước, hình thức hoạt động đa dạng và phong phú trong rất nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh của nền kinh tế.
- Được thành lập dễ dàng hơn DN lớn do không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động thấp, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp do đó DNNVV có mặt ở khắp mọi nơi và trở thành một nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đối với doanh nghiệp lớn thường tập trung ở khu vực tỉnh, thành phố phát triển. - Vốn đầu tư để thành lập doanh nghiệp ban đầu thấp, mô hình tổ chức đơn giản, gọn nhẹ nên năng động, nhạy bén hơn với thay đổi của thị trường. DNNVV có khả năng chuyển đổi mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh nhanh chóng phù hợp với nhu cầu thị trường mà ít gây biến động lớn, có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh tế quốc gia.
- Có tính chủ động và linh hoạt cao hơn góc độ điều hành doanh nghiệp, chính sách về giá cả, chính sách bán hàng, chiết khấu… và đây là một trong những ưu thế quan trọng của các DNVVN nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. DNVVN có khả năng cung cấp các dịch vụ có giá cả thấp, đồng thời đưa ra nhiều mức giá linh hoạt khác nhau, phù hợp với túi tiền và nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng. - Là các doanh nghiệp trẻ, đội ngũ ban lãnh đạo trẻ trung, thích đổi mới về công nghệ, phát triển năng động cùng với xu hướng số hóa, công nghệ 4.0 nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. 7 Bên cạnh những lợi thế nêu trên thì DNNVV cũng có một số đặc điểm hạn chế trong quá trình hoạt động như: - Hạn chế về trình độ quản lý và phương thức điều hành của Chủ doanh nghiệp.
Phần lớn DNVVN được thành lập trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghệp… và người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh. Đa số chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản, các kiến thức kinh tế cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường,về quản trị kinh doanh được vận dụng vào thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm tích lũy là chủ yếu. Do vậy mức độ chuyên môn trong quản lý thường không cao, đôi khi việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, chưa có sự chuyên môn hóa, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Và hệ quả rõ ràng là môi trường làm việc ở các DNVVN chưa phát huy tốt tính tự chủ, sáng tạo của nhân viên.
Doanh nghiệp chưa tập trung xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh lâu dài và bền vững với những mục tiêu, sứ mệnh được xác định rõ ràng, cụ thể trong từng giai đoạn, từng điều kiện và hoàn cảnh. - Việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với cơ quan chính quyền, đối tác nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn, DNNVV thường đóng vai trò là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn, do đó vị thế cạnh tranh thấp và trong nhiều trường hợp thường bị động và phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn. - Hạn chế về khả năng cạnh tranh do tiềm lực tài chính thấp, thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, các dự án đầu tư lớn và trong thời gian dài. DNVVN thường gặp khó khăn trong việc đầu tư cho nghiên cứu thiết kế cải tiến công nghệ, mua sắm và trang bị những công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn vốn lớn, hạn chế trong việc đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên của mình, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Thiếu vốn, tuy nhiên lại khá khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng từ Ngân hàng do hồ sơ tài chính của doanh nghiệp độ tin cậy thấp, thường không phản ánh 8 chân thực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do việc quản lý và lập hồ sơ báo cáo tài chính chưa được chuyên nghiệ; Quy mô tổng tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ phải trả so với vốn tự có cao, dễ mất cân đối tài chính; Thiếu tài sản thế chấp do đó giá trị vay vốn bị hạn chế, hầu hết khoản vay là ngắn hạn, doanh nghiệp khó khăn trong vay vốn trung dài hạn để đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh. Vai trò Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Sự hình thành và phát triển của các DNNVV đang trở thành xu hướng tất yếu không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả các nước phát triển. Theo số liệu của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày 31/12/2019, cả nước có 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm trên 95%. Do đó có sức ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp Việt Nam nói riêng.
- Đóng góp lớn vào vào sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập người dân. Theo số liệu thống kê năm 2019, các DNNVV đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách hàng năm và thu hút hơn 5 triệu lao động, góp phần giải quyết lực lượng lao động lớn trong cả nước. - DNNVV với bộ máy hoạt động khá gọn nhẹ, cùng với sự phát triển năng động, nhạy bén, thích đối mới công nghệ, cơ chế quản trị điều hành linh hoạt đã góp phần trong việc thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu đặc biệt trong giai đoạn công nghệ 4. Tổng quan tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Tổng quan về tín dụng - Tín dụng xuất hiện từ rất sớm, trong nền kinh tế trao đổi hàng hoá, đã nảy sinh quan hệ chuyển từ người tạm thời thừa vốn (có vốn nhàn rỗi) sang người tạm thời thiếu vốn (giao dịch cho vay và đi vay) giữa các chủ thể kinh tế.
Và khi có sự dịch chuyển vốn này kèm theo điều kiện hoàn trả vốn và tiền lãi phát sinh hoặc lợi nhuận thu được từ giao dịch cho vay và đi vay được gọi là quan hệ tín dụng. Theo đó, tín dụng được hiểu là là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm 9 theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.