phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: SV: Trần Thị Hảo 3 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan Chƣơng 1: Lý luận chung về chất lƣợng tín dụng đối với hộ sản xuất tại quỹ tín dụng. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng đối với hộ sản xuất tại quỹ tín dụng nhân dân Nga Mỹ. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với hộ sản xuất tại quỹ tín dụng nhân dân Nga Mỹ. SV: Trần Thị Hảo 4 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI QUỸ TÍN DỤNG 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ QUỸ TÍN DỤNG 1.1 Khái quát về tín dụng 1.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn ngƣời sử dụng phải hoàn trả một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Quỹ tín dụng là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động và kinh doanh theo luật ngân hàng và luật hợp tác xã. Vì thế, khái niệm tín dụng trong quỹ tín dụng cũng có thể hiểu là tín dụng ngân hàng. Theo giáo trình Nghiệp vụ NHTM – PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống Kê (2009): Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.2 Đặc điểm của tín dụng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc và lãi) đúng hạn.
Thứ hai, tín dụng chỉ là sự chuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho đơn vị hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lí, ngân hàng phải căn cứ tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tƣợng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định thì có thể cấp đƣợc nhiều tín dụng dài hạn; ngƣợc lại, nếu nguồn vốn SV: Trần Thị Hảo 5 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan không ổn định và kì hạn ngắn mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản.
Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kì luân chuyển vốn của đối tƣợng vay thì ngƣời vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kì luân chuyển vốn của đối tƣợng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngƣợc lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kì luân chuyển vốn sẽ tạo nên điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thứ ba, tín dụng ngân hàng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Nếu không có sự hoàn trả thì không đƣợc coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn luôn là một số dƣơng, có nhƣ vậy mới bù đắp đƣợc chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trƣờng hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng nhƣ sự biến động kinh tế, thị trƣờng, thiên tai…Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trƣờng kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng phải dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lí chặt chẽ nhƣ: hợp đồng tín dụng, khế ƣớc vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện các khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải bảo đảm đƣợc hai nguyên tắc sau: Thứ nhất, vốn vay phải đƣợc sử dụng đúng mục đích.
SV: Trần Thị Hảo 6 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan Thứ hai, vốn vay phải đƣợc hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng.2 Khái quát về quỹ tín dụng 1.1 Khái niệm quỹ tín dụng Điều 4 luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội, Luật các tổ chức tín dụng có ghi: Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Xét về bản chất quỹ tín dụng nhân dân Nga Mỹ là một doanh nghiệp đặc biệt trên thị trƣờng. Là doanh nghiệp vì quỹ tín dụng nhân dân Nga Mỹ hoạt động giống nhƣ các doanh nghiệp khác. Có vốn tự có, mua vào, bán ra có chi phí và thu nhập, phải nộp thuế có lãi hoặc có thể bị lỗ.
Là doanh nghiệp đặc biệt vì quỹ tín dụng không kinh doanh các hàng hoá dịch vụ thông thƣờng mà kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Quỹ tín dụng kinh doanh phần lớn không phải bằng nguồn vốn tự có của mình mà chủ yếu bằng nguồn vốn đi vay trong xã hội thông qua huy động tiền gửi, cho vay làm trung gian cung cấp các dịch vụ ngân hàng.2 Các hoạt động cơ bản của quỹ tín dụng Theo nghị định số 48/2001/NĐ – CP của chính phủ về tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân thì quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc phép thực hiện các hoạt động sau: * Hoạt động huy động vốn - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành viên và ngoài thành viên. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc vay vốn của quỹ tín dụng nhân dân Trung ƣơng, vay vốn của các tổ chức tín dụng không phải là quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. SV: Trần Thị Hảo 7 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan * Hoạt động tín dụng - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay đối với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Việc cho vay hộ nghèo thực hiện theo điều lệ của quỹ tín dụng nhân dân, nhƣng tỷ lệ dƣ nợ cho vay đối với hộ nghèo so với tổng dƣ nợ không đƣợc vƣợt quá tỷ lệ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc quy định. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc cho vay những khách hàng có gửi tiền tại quỹ tín dụng nhân dân dƣới hình thức cầm cố sổ tiền gửi do chính quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đó phát hành. - Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều chỉnh lãi suất và lƣu giữ hồ sơ quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện các hoạt động tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc.
* Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nƣớc, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ƣơng và các tổ chức tín dụng khác (trừ các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khác). - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chủ yếu phục vụ các thành viên. * Các hoạt động khác - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn vào quỹ tín dụng nhân dân Trung ƣơng và tổ chức liên kết phát triển hệ thống. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc nhận ủy thác và làm đại lý trong lĩnh vực hoạt động tiền tệ theo hƣớng dẫn của Ngân hàng Nhà nƣớc.
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đƣợc thực hiện các hoạt động khác khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc cho phép. SV: Trần Thị Hảo 8 Lớp: TCNH – K12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Loan => Theo nghị định trên thì mục đích hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân không chỉ là lợi nhuận mà còn giúp cải thiện đời sống cho thành viên và hộ nghẻo trên địa bàn. Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế xã hội.2 TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT 1.1 Khái quát về hộ sản xuất 1.1 Khái niệm hộ sản xuất Có nhiều quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất của hộ đƣợc tiến hành một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thƣờng có cùng huyết thống, thƣờng cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động.
Một nhà kinh tế khác thì cho rằng: Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân là kiểu trang trại độc lập, sản xuất kinh doanh của từng gia đình có tƣ cách pháp nhân riêng do một chủ hộ hoặc một ngƣời có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, các thành viên khác trong gia đình tham gia lao động sản xuất.