Chương I-Tín dụng ngân hàng và Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNV&N 1.1_Khái quát về DNV&N 1.1_Khái niệm Việc đưa ra một khái niệm chính xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất khó khăn. Hiện nay, trên thế giới mỗi nước lại có một khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ riêng của mình. Trong khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên 3 tiêu thức là số lượng lao động, tổng giá trị tài sản và doanh thu; Singapo thì chỉ dựa vào số lượng lao động và tổng giá trị tài sản. Trong khu vực Châu Á, Hồng Kông xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ dựa trên tiêu thức số lượng lao động, nhưng số lượng lao đông đặt ra cho các ngành là khác nhau, với ngành dịch vụ thì lượng lao động nhỏ hơn so với lượng lao động trong ngành công nghiệp.
Cũng như vậy nhưng Hàn Quốc chia theo thành 3 ngành, đó là các ngành: chế tạo máy và khai khoáng, xây dựng, dịch vụ. Trên thế giới, Canada, Úc và Mỹ đều phân loại dựa vào số lượng lao động, nhưng số lượng lao động làm tiêu chí thì ở mỗi nước là khác nhau. Như vậy, ta thấy cho mặc dù có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ thì 2 tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lượng lao động trung bình và tổng sổ vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ đơn thuần phản ánh qui mô của doanh nghiệp mà nó còn bao chùm nội dung về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý và tiến bộ khoa hoc công nghiệp.
Tuỳ theo thực trạng về quy mô của các doanh nghiệp trong nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế có tính đến xu hướng phát triển trong thời gian tới mà các nước có tiêu chí xác định riêng của mình. Như vậy việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ mang tính tương đối và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. 3 Luan van Đối với Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu yêu cầu thực tế và học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, ngày 23/11/20011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định lại tiêu chí để xác định doang nghiệp vừa và nhỏ, như sau: " Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ".2_Đặc điểm Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là mối quan tâm của các NHTM vì đây là đối tượng khách hàng ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ bên cạnh những hạn chế còn có những mặt tích cực.
Việc tìm hiểu đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ giúp cho hoạt động giữa NHTM và các doanh nghiệp này đạt được hiệu quả cao. a_Quy mô hoạt động nhỏ Quy mô hoạt động của một doanh nghiệp thường được đánh giá dựa trên hai tiêu chí cơ bản là số vốn hoạt động và số lượng lao động trung bình. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao động trung bình không quá 300 người. Do đó, có thể nói quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh trong tương quan nền kinh tế.
Quy mô vốn nhỏ bé, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều gặp khó khăn về vốn. Việc tiếp cận với các nguồn tài chính khác với những doanh nghiệp này cũng là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận với các nguồn vốn từ những tổ chức tín dụng thấp đã khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp hàng loạt các khó khăn khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. 4 Luan van b_Khả năng cạnh tranh thấp Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác là thấp nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn, đầu tư sản xuất mới.
Bên cạnh đó, do không đủ vốn để đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, càng không đủ vốn cho hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật, các doanh nghiệp này thường sử dụng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém. Chính vì vậy, các sản phẩm sản xuất ra thường có chất lượng thấp mà chi phí bỏ cũng không nhỏ. Điều này làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Cũng vì lý do vốn mà các doanh nghiệp này có nhiều hạn chế trong việc marketing, quảng cáo sản phẩm, nắm bắt thông tin thị trường.Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trường, cũng như việc phát triển doanh nghiệp, do đó mà sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thấp.
c_Chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài Số lượng các doanh nghiệp nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp, tuy nhiên tổng lượng vốn của các doanh nghiệp này lại không chiếm phần lớn lượng vốn của nền kinh tế. Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp lớn là trụ cột và được ví như đầu tàu của nền kinh tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, hoặc nếu là đối thủ thì cũng luôn tránh phải đối đầu trực tiếp với các doanh nghiệp lớn vì khả năng cạnh tranh thấp. Họ hoạt động không chỉ tuân theo xu thế vận động của nền kinh tế như các doanh nghiệp lớn mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ các doanh nghiệp này.
d_Tính linh hoạt cao Bên cạnh những những khuyết điểm kể trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có một số ưu điểm nổi bật như bộ máy tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, có tính năng 5 Luan van động, sự linh hoạt cao và khả năng thích ứng cao hơn các doanh nghiệp lớn trước những biến động của thị trường. Vì chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính nhạy cảm cao đối với sự thay đổi không ngừng của thị trường. Họ luôn phải cập nhật các thông tin từ thị trường, từ các doanh nghiệp lớn và từ đối thủ. Bên cạnh đó, chỉ cần một lượng vốn bổ sung không nhiều, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng đổi mới thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng được các kĩ thuật tiên tiến kết hợp tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ công, trên cơ sở đó từng bước đổi mới công nghệ. Do đó các doanh nghiệp này có thể thay đổi một cách linh hoạt theo xu hướng của thị trường mà không cần quá nhiều vốn đầu tư. Tuy nhiên, vốn lại luôn là vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp này, vì vậy nếu được đánh giá đúng khả năng, có dự án khả thi thì việc đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đem lại lợi nhuận cao cho các NHTM 1.3_Vai trò của DNV&N Khi nói đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia, chúng ta thường nghĩ ngay đến các doanh nghiệp khổng lồ quen thuộc. Chẳng hạn như khi nói đến nền kinh tế Nhật Bản thì người ta nghĩ ngay tới Mitsubishi, Toyota; nói đến Hàn Quốc là Samsung.Trong khi đó, trên thực tế thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
a_Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Do có lợi thế là chỉ cần một lượng vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công ty, nhà xưởng, mở văn phòng. với chi phí thấp, tính năng động và tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng với những nhu cầu thường xuyên thay đổi của 6 Luan van thị trường nên ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn chiếm khoảng hơn 90% tổng số các doanh nghiệp. Thêm vào đó, phần lớn các doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và giao thông vận tải., lại thường sử dụng công nghệ lạc hậu, nửa cơ giới nửa thủ công do vậy khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp này là rất lớn. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đóng góp hơn 25% GDP, 26% việc làm thường xuyên và tạo ra 1,2 triệu việc làm mới mỗi năm.
Trong khi đó các doanh nghiệp lớn có kĩ thuật sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các xí nghiệp tự động hoá sản xuất đã làm cho số người thất nghiệp ngày càng tăng, phát sinh nhiều tiêu cực cho xã hội. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút các lao động nông nghiệp ở nông thôn trong các làng nghề truyền thống. Các doanh nghiệp này đã giúp cho người nông dân có thêm được thu nhập với các nghề truyền thống từ bao đời bằng việc xuất khẩu các mặt hàng thủ công mĩ nghệ. Nhờ đó giảm được lượng lao động ồ ạt đổ lên thành phố trong lúc nông nhàn, hơn thế nữa là giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc từ bao đời nay của Việt Nam.
b_Thu hút nguồn vốn trong dân Tiềm lực tài chính trong dân là rất lớn, tuy nhiên lại nằm rải rác, không tập trung thành những khoản lớn đủ để đáp ứng cho những nhu cầu vốn với quy mô lớn. Để thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì yêu cầu về vốn là không lớn do đó các doanh nghiệp này được thành lập một cách dễ dàng, nằm phân tán trong dân, đi vào tận các làng xóm. Vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trọng việc thu hút nguồn vốn từ dân, tận dụng những nguồn vốn nhỏ bé này cho sản xuất kinh doanh không để chúng nhàn rỗi. Mặc dù, số 7 Luan van vốn của một doanh nghiệp loại này nhỏ nhưng do số lượng doanh nghiệp là rất lớn nên tổng lượng vốn thu hút được khá lớn.
c_Đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Do qui mô vừa và nhỏ nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đặt văn phòng làm việc, nhà xưởng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ, ở cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa phương.