CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Tổng quan về DNNVV 1.1 Khái niệm DNNVV Muốn hiểu DNNVV là gì trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là DN. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam số 60/2005/QH11, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006: DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, trong đó nếu phân loại dựa theo quy mô có thể chia DN thành DN lớn và DNNVV. Khái niệm DNNVV gợi ý cho chúng ta tiêu chuẩn về quy mô, kích cỡ.
Trên thực tế khó tìm được định nghĩa mang tính tổng quát vì môi trường kinh doanh của các DNNVV thường không đồng nhất và không ổn định. Theo quan niệm của khối EU, DNNVV được phân loại như Bảng 1.1: Phân loại các DNNVV theo khối EU Loại DN Số nhân công Doanh số (triệu Hoặc tổng tài sản Euro) (triệu Euro) Vừa <250 50 43 Nhỏ <50 10 10 Siêu nhỏ <10 2 2 Tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính tương đối, do quá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, tính chất ngành nghề, trình độ phát triển của DN, sự khác biệt giữa các vùng trong một quốc gia, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Mỗi một yếu tố đều có một ý nghĩa, tùy theo quan điểm và điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có một sự phân loại riêng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Nghị định 56/2009/CP-NĐ của Chính phủ ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại Việt Nam Quy mô DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I.
Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và thủy sản trở xuống trở xuống người đến đồng đến 200 200 người 100 tỷ đồng người đến 300 người II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến 200 200 người 100 tỷ đồng người đến 300 người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người Theo tiêu chuẩn này thì hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 97% DN là DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm cả các hộ kinh doanh cá thể. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biệnpháp, chương trình hỗ trợ có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí trên.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam Đặc điểm hoạt động của các DNNVV là mối quan tâm của các NHTM vì đây là đối tượng khách hàng có vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Ta có thể tóm gọn những đặc điểm của các DNNVV tại nước ta ở một số đặc điểm như sau: 1.1 Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp,…và hoạt động dưới mọi hình thức như: DNNN, DNTN, công ty cổ phần, công ty TNHH, DN có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh doanh cá thể.2 Tính năng động cao DNNVV có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường do các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh chóng. Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các DNNVV đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế-xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơn các DN có quy mô vốn lớn trong việc chuyển sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.3 Chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho DN kinh doanh hiệu quả.4 Năng lực sản xuất kinh doanh còn hạn chế Do đặc điểm vốn hoạt động nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn và đầu tư sản xuất mới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bên cạnh đó, do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có nhiều điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại.
DNNVV cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường.5 Trình độ lao động và năng lực quản lý còn thấp Trình độ và tay nghề của người lao động, đội ngũ quản lý trong các DNNVV cũng là một trong các vấn đề bức xúc hiện nay. Tình trạng trên là do nguồn vốn hạn hẹp, các DNNVV khó có thể chiêu mộ được lực lượng lao động và quản lý giỏi, có tay nghề cao. Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít được chủ DN quan tâm đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao tay nghề trong khi chất lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN.
Bên cạnh đó, kỹ năng của nhà lãnh đạo DN cũng còn hạn chế, số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam Sự tồn tại của DNNVV trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Chiếm đến 97% số lượng DN, DNNVV có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước như sau: 1.1 Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tăng thu nhập quốc dân Do quy mô nhỏ và vừa nên các DNNVV có thể đặt văn phòng làm việc, nhà xưởng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ, ở cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa phương. Quy mô hoạt động cũng như trình độ công nghệ của các DN này rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như ngành chế biến thủy-hải sản, may mặc, da giày mà đây lại là những ngành đem lại nhiều kim ngạch xuất khẩu cho cả nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bên cạnh đó do lợi thế của mình, các DNNVV rất thích hợp với các khu vực kinh doanh - thương mại dịch vụ bán lẻ.
Trong khi đó các DN lớn khó có thể tổ chức được mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hóa của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của DNNVV. Chính vì vậy, các DNNVV đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh chóng thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng miền, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên toàn lãnh thổ. DNNVV là một lực lượng kinh tế đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng quốc nội. Số liệu thống kê tổng hợp được cho thấy, hàng năm DNNVV đã đóng góp hơn 40% vào GDP, chiếm tỷ trọng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp gần 15% tổng thu ngân sách Nhà nước (Nguồn: Số liệu của Tổng Cục Thống Kê năm 2011).2 Giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động Các DNNVV thường hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và giao thông vận tải lại thường sử dụng công nghệ lạc hậu, nửa cơ giới, nửa thủ công do vậy khả năng thu hút lao động của các DN này là rất lớn.
Hiện các DNNVV giải quyết việc làm khoảng 50% lao động xã hội. Ở Việt Nam, hiện nay các DNNVV đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động nông nghiệp ở nông thôn trong các làng nghề truyền thống, nhờ đó giảm được lượng lao động ồ ạt đổ lên thành phố trong lúc nông nhàn, hơn thế nữa là giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc từ bao đời nay của Việt Nam.3 Giúp ổn định nền kinh tế Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các DN lớn. DNNVV tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng vì các DN này thường chỉ chuyên sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường Việc phát triển không ngừng của các DNNVV tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ giữa các DN kể cả với các DN lớn trong nền kinh tế.
Trong một thị trường cạnh tranh, những sản phẩm sản xuất ra phải không ngừng nâng cao chất lượng nếu không muốn bị đào thải. Mà DNNVV lại nhạy cảm với sự biến động của thị trường đồng thời có tính linh hoạt trong sản xuất, các sản phẩm sản xuất ra luôn bám sát với yêu cầu của thị trường với chi phí thấp. Đây là một thách thức rất lớn với những DN lớn, khiến cho các DN này khó có thể lũng đoạn thị trường.