LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Tín dụng ngân hàng thƣơng mại là một trong những kênh chủ yếu yếu thu hút và điều hòa nguồn vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - Xã hội của đất nƣớc. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh đặc biệt, đi vay để cho vay. Vì thế, sự hoàn trả cả gốc và lãi của khách hàng vay vốn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của mỗi ngân hàng, nó đảm bảo quá trình luân chuyển vốn của các ngân hàng đƣợc tuần hoàn, liên tục sinh lời và còn là khả năng thanh toán của ngân hàng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng ngày càng tăng, làm tăng nguy cơ mất vốn của các ngân hàng càng lớn, điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có những phƣơng án theo kịp với tình hình kinh tế xã hội để ổn định và phát triển. Hơn thế nữa, trong giai đoạn hiện nay do ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, các doanh nghiệp tại việt nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rất nhiều khó khăn nhƣ: khó khăn về thị trƣờng tiêu thụ, khó khăn về nguyên – nhiên vật liệu sản xuất và đặc biệt là khó khăn về nguồn vốn. Theo kết quả khảo sát của Cục phát triển doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chỉ có 32,28% doanh nghiệp có thể tiếp cận đƣợc vốn vay từ các ngân hàng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp đang phải gãnh chịu chi phí lãi vay quá cao từ 20% - 25%, dẫn đến rất nhiều danh nghiệp đứng trƣớc nguy cơ phá sản và ngừng hoạt động.
Cụ thể theo số liệu của phòng công nghiệp thƣơng mại Việt Nam tính đến tháng 6 năm 2011 số lƣợng doanh nghiệp giải thể đã bằng tổng số lƣợng doanh nghiệp giải thể năm 2010. Trƣớc tình hình trên, Chính phủ, Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam, đặc biệc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam rất chú trọng việc phát triển, nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ý thức đƣợc vấn đề này, nên tôi chọn đề tài:" Nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực TP. Hồ Chí Minh" làm đề tài nghiên cứu của mình.
Mục đích của Đề tài - Nghiên cứu các lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, chất lƣợng tín dụng, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV của các NHTM - Từ họa động thực tiễn, đánh giá thực trạng về hoạt động tín dụng và chấ t lƣợng tín dụng đối với DNNVV của NHNN&PTNT Việt Nam khu vực TP.HCM thời gian vừa qua để tìm ra những nguyên nhân tồn tại, những khó khăn vƣớng mắc cần giải quyết - Nêu lên những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV tại NHNN&PTNT Việt Nam khu vực TP. Đối tƣợng nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu là chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV tại NHNN&PTNT khu vực TP. HCM - Chất lƣợng tín dụng là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung nhƣng luận văn chỉ giới hạn phân tích các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, chỉ tiêu lợi nhuận. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nghiêu cứu: NHNN&PTNT khu vực TP.
- Thời gian nghiêu cứu dựa trên số liệu từ năm 2007 đến tháng 06 năm 2011. Phƣơng pháp nghiên cứu Luâ ̣n văn chủ yế u sƣ̉ du ̣ng phƣơng pháp nghiên cƣ́u đinh ̣ tính trên cơ sở khảo sát và tổng hợp những số liệu chính thức. Bên ca ̣nh đó , cũng sử dụng phƣơng pháp nghiên cƣ́u đinh ̣ lƣơ ̣ng để minh ho ̣a cho các tiêu chí đã đinh ̣ tin ́ h. Kết cấu của luận văn Luâ ̣n văn gồ m có phầ n mở đầu, phầ n kết luận và 03 chƣơng.
Chƣơng 1: Tổng quan về chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng về chất lƣợng tín dụng đối với DNNNVV tại NHNN&PTNT Việt Nam khu vực TP. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV tại NHNN&PTNT Viê ̣t Nam khu vực TP. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về tín dụng và tín dụng ngân hàng 1.1 Quá trình ra đời và bản chất của tín dụng Tín dụng là quan hệ vay mƣợn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến hạn. Nhƣ vậy, tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là một qua hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức: cho vay, bán chịu hàng hóa, chiết khấu, bảo lãnh,.
đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó đã thỏa thuận. Tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Lúc đầu, các quan hệ tín dụng hầu hết đều bằng hiện vật và một phần nhỏ là tín dụng hiện kim, tồn tại dƣới tên gọi tín dụng nặng lãi, cơ sở của quan hệ tín dụng lúc bấy giờ là sự phát triển lúc đầu của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong điều kiện của nền sản xuất hàng hóa kém phát triển. Các quan hệ tín dụng phát triển trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến.
Phản ánh thực trạng của một nền kinh tế sản xuất nhỏ. Chỉ đến khi phƣơng thức sản xuất TBCN ra đời, các qua hệ tín dụng mới có điều kiện phát triển. Tín dụng bằng hiện vật đã nhƣờng chỗ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng nặng lãi phi kinh tế đã nhƣờng chỗ cho các loại tín dụng khác ƣu việt hơn nhƣ tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nƣớc. Dù tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái kinh tế XH, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng sau: - Tín dụng trƣớc hệt chỉ là sự chuyển giao sử dụng một số tiền (hiện kim), hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng.
- Tín dụng bào giờ cũng có thời hạn và phải đƣợc hoàn trả. - Giá trị của tín dụng không những đƣợc bảo tồn mà còn đƣợc nâng cao nhờ lợi tức của tín dụng. Bản chất của tín dụng đƣợc hiểu theo hai khía cạnh sau: - Thứ nhất: tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ đƣợc vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. - Thứ hai: Tín dụng đƣợc coi là một số vốn, có thể bằng hiện vật hoặc hiện kim vận động theo nguyên tắc hoàn trà, đáp ứng cho các nhu cầu của chủ thể tín dụng.2 Chức năng của tín dụng - Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở hoàn trả: Đây là chức năng cơ bản của tín dụng, nhờ chức năng này mà nguồn vốn tiền tệ trong xã hội đƣợc điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế.
Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các nguồn tiền nhàn rỗi đƣợc tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, của các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội,.v Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: đó là sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung nhằm đáp ừng nhu cầu sản xuất lƣu thông hàng hóa cũng nhƣ nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều đƣợc thực hiện theo nguyên tắc có hoàn trả, vì vậy tín dụng có ƣu thế rõ rệt, nó kích thích tập trung vốn và thúc đẩ y việc sử dụng vốn có hiệu quả. Do đó, nhờ chức năng này của tín dụng mà phần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền nhàn rồi một cách tƣơng đối đã đƣợc huy động và sử dụng cho các nhu cầu sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội tăng. - Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lƣu thông cho xã hội: Hoạt động tín dụng đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lƣu thông tín dung nhƣ: thƣơng phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, phƣơng tiện thanh toán hiện đại nhƣ thẻ tín dụng, thẻ thanh toán.
cho phép thay thế một số lƣợng lớn tiền mặt lƣu hành, nhờ đó giảm bớt các chi phí nhƣ in, đúc, vận chuyển, bảo quản tiền. Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã mở ra một khả năng trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dƣới hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán qua ngân hàng ngày càng đƣợc mở rộng , vƣ̀a giúp giải quyết nhanh chó ng các mối quan hệ kinh tế, tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển. Ngoài ra, nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội đƣợc huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lƣu thông hàng hóa, làm tăng tố độ chu chuyển vốn trong phạm vị toàn xã hội.
- Phát triển và kiể m soát các hoạt động kinh tế: Đây là chức năng phát sinh từ hai chức năng trên. Sự vận động của vốn tín dụng là sự vân động gắn liền với sự vận động của vật tƣ hàng hóa, chi phí trong các tổ chức, doanh nghiệp, vì vậy tín dụng không chỉ là tấm gƣơng phản anh mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà con thông quá đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy, nhằm ngăn chă ̣n sự tiêu cực, lãng phí, các hành vi vi phạm pháp luật.3 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế Nói đến vai trò của tín dụng, nghĩa là nói đến tác động của tín dụng đối với nền kinh tế xã hội. Vai trò của tín dụng bao gồm các vai trò cơ bản sau đây: - Tín dụng thúc đẩy sản xuất lƣu thông hàng hóa phát triển. + Đối với doanh nghiệp: tín dụng góp phần cung ứng vốn, bao gồm vốn cố định và vốn lƣu động.