CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về chính sách bảo trợ xã hội 1.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò của chính sách bảo trợ xã hội 1. Một số khái niệm - Chính sách công: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền Bản chất chính sách công là thái độ chính trị của Đảng cầm quyền. Chính sách công được coi là sản phẩm của quá trình chính trị, nhưng chính sách công là sản phẩm của chính nó bởi nó có vấn đề chính sách. Chính sách công luôn mang tính chất thực tiễn, tính chất đa ngành liên ngành, xuyên ngành và tính chuẩn tắc.
- An sinh xã hội: Lần đầu tiên cụm từ “An sinh xã hội” được chính thức sử dụng trong văn kiện Đại hội IX của Đảng (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp”. Theo đó, hệ thống an sinh xã hội từng bước được thể chế hóa và hoàn thiện về cả phương pháp tiếp cận, cũng như xây dựng hệ thống chính sách pháp luật. Hiến pháp năm 2013 đã hiến định "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội" (Điều 34).
Điều 59 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội” [2, tr21] 4 Theo Nguyễn Hải Hữu (2020) định nghĩa “An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khác rơi vào nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội”. - Chính sách xã hội: Theo giáo trình về chính sách xã hội của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004 thì “Chính sách xã hội là công cụ của Nhà nước được thể chế hóa bằng các cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người”[35, tr31]. - Trợ giúp xã hội: Trợ giúp xã hội là một chủ trương lớn, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa chính trị, xã hội, kinh tế quan trọng, đồng thời nó cũng là nền tảng thực hiện công bằng xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Trợ giúp xã hội là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thu thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận.
Hầu hết các khoản trợ cấp được dựa trên cơ sở đánh giá gia cảnh hoặc thu nhập nhất định. Theo quan điểm hiện đại trợ giúp xã hội bao gồm 3 loại hình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình, dịch vụ xã hội. - Bảo trợ xã hội: “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền nhà nước các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm mục tiêu giúp các đối tượng thiệt thòi, 5 yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội” [35, tr 32]. Bảo trợ xã hội ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Bảo trợ xã hội theo nghĩa rộng có khái niệm, nội hàm và vai trò giống như an sinh xã hội; còn bảo trợ xã hội theo nghĩa hẹp (truyền thống) là hệ thống cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong cuộc sống (còn gọi chung là đối tượng xã hội) ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng như người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người bị nhiễm HIV/AIDS, những người là nạn nhân của thiên tai và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác. Bảo trợ xã hội theo nghĩa hẹp không có đầy đủ chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho tất cả các thành viên trong xã hội. Độ bao phủ của nó chỉ giới hạn trong phạm vi các đối tượng bảo trợ xã hội chứ không phải hướng tới tất cả các thành viên trong xã hội và hoạt động của nó mang nặng tính bị động đối phó với rủi ro hơn là chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro. - Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội: Chính sách bảo trợ xã hội bao gồm cả hệ thống chính sách của Nhà nước như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách cứu đói, chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục cho bộ phận dân cư yếu thế.
Vì vậy bảo trợ xã hội có vai trò và là trách nhiệm của Nhà nước, là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một hoặc một nhóm đối tượng xã hội, đồng thời bảo trợ xã hội không phải là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội mà là một phần của an sinh xã hội. Chính sách của Nhà nước về bảo trợ xã hội là hệ thống các quy định, giải pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với các đối tượng bảo trợ xã hội với mục tiêu khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống 6 cho các đối tượng bảo trợ xã hội, việc bảo đảm này thông qua các hoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất cần thiết khác cho các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội. Đặc trưng của chính sách bảo trợ xã hội Người được trợ cấp thông thường không phải trực tiếp đóng góp toàn bộ chi phí trợ giúp xã hội do nhà nước chi trả và đóng góp từ các tổ chức xã hội khác; thực tế khi đã là đối tượng bảo trợ xã hội thì người dân không còn khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn tự đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình. Vì vậy, người được trợ cấp xã hội không bị ràng buộc bởi những điều kiện đóng góp, nguồn quỹ trợ cấp thường do các tổ chức, cá nhân hoặc nhà nước gây dựng.
Thông thường thì trợ cấp xã hội sẽ góp phần cùng với gia đình và bản thân đối tượng đảm bảo cho mức sống của đối tượng được trợ cấp bằng hoặc cao hơn mức sống tối thiểu của nhân dân cùng khu vực cư trú. Vì vậy, hạn mức trợ cấp xã hội thường được nghiên cứu dựa trên nhu cầu thực tế của từng đối tượng cụ thể được trợ giúp, đồng thời đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Trợ giúp xã hội đột xuất thông thường là hình thức cứu trợ khẩn cấp, chỉ cứu trợ một lần với các hình thức trợ giúp bằng: tiền, lương thực hoặc các hiện vật khác như: nhu yếu phẩm, dụng cụ sinh hoạt, đồ dùng cá nhân. Vai trò của chính sách bảo trợ xã hội Chính sách bảo trợ xã hội là một trong những công cụ quản lý nhà nước được thể hiện thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo trợ xã hội; mục đích của các chính sách bảo trợ xã hội là giữ gìn sự ổn định về mặt xã hội, chính trị của đất nước, mà quan trọng hàng đầu là ổn định xã hội, giảm sự bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về giới, phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội,… Việc áp dụng tốt các chính sách bảo trợ xã hội sẽ giúp cho việc điều tiết tốt hơn các nguồn lực của xã hội 7 và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn, bất ổn của xã hội trong quá trình phát triển.
Nhà nước thông qua hệ thống các chính sách bảo trợ xã hội để điều tiết phân phối lại thu nhập, điều tiết sự phân phối lại giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cư làm giảm bớt sự bất bình đẳng trong quá trình phát triển. Với chức năng tái cơ cấu của cải xã hội, Nhà nước điều tiết phân phối của cải xã hội, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển nhằm tiến đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, từng bước hạn chế và khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng, giảm bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư trong xã hội. Nguyên tắc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Chính sách bảo trợ xã hội được tổ chức thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ quy trình tổ chức thực hiện một hợp phần chính sách của nhà nước vì vậy phải đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của mục tiêu chính sách đó là trợ giúp có thể là đột xuất hoặc thường xuyên đối với các đối tượng khó khăn trong xã hội vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn. - Đảm bảo tính hiệu lực: Đảm bảo tính hiệu lực là nhằm đạt được mục tiêu mong muốn của nhà nước.
Bảo đảm cân đối các nguồn lực và dự lường được các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình thực hiện chính sách. - Đảm bảo tính hiệu quả: Để đảm bảo tính hiệu quả, việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cần phải đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra với một mức chi phí hợp lý nhất, tiến độ thực hiện chính sách đảm bảo theo kế hoạch hoặc dao động trong khoảng thời gian cho phép. - Đảm bảo tính công bằng: Chính sách bảo trợ xã hội tổ chức thực hiện đã được phân loại theo từng nhóm với từng tiêu chí. Tuy nhiên trong từng nhóm đối tượng lại có từng 8 loại đối tượng cụ thể khác nhau.
Vì vậy, khi xác định từng loại đối tượng cụ thể cần phải xác định đúng, tính đủ đảm bảo công bằng trong thực thi chính sách.