Chương 1: THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Tài chính Tài chính (Theo định nghĩa trong từ điển Kinh tế) là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.
Hay đơn giản Tài chính là việc sử dụng các nguồn lực, vốn liếng sao cho hiệu quả nhất. Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định. Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử dụng những khoản vốn thông qua phương thức giao dịch và những công cụ tài chính nhất định. Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư; Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính; Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước.
Tài chính công 15 z Khái niệm tài chính mà chúng ta đề cập trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay chủ yếu là Tài chính nhà nước, Tài chính quốc gia hay còn gọi là Tài chính công. Đây là một lĩnh vực cốt lõi, là mạch máu của nền kinh tế. Đó là toàn bộ việc thu – chi của một quốc gia. Trong cuốn Giáo trình Quản lý tài chính công (2009) của Học viện Tài chính đã nêu rõ định nghĩa: Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội [22, Tr 138].
Thuật ngữ liên quan: Nếu phân loại Tài chính công theo nội dung quản lý, thì có thể chia Tài chính công thành các bộ phận: Ngân sách nhà nước; Tín dụng nhà nước; và các Quỹ tài chính nhà nước ngoài Ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước Theo Giáo trình Quản lý tài chính công (2009) của Học viện Tài chính định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là mắt khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong Tài chính công. Thu của Ngân sách nhà nước được lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Tương ứng với các cấp ngân sách, quỹ Ngân sách nhà nước được chia thành: Quỹ ngân sách của Chính phủ Trung ương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương; quỹ ngân sách của chính quyền cấp xã và tương đương.
Phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước các cấp, quỹ ngân sách lại được chia thành nhiều phần nhỏ để sử dụng cho các lĩnh vực khác nhau, như: phần dùng cho phát triển kinh tế; phần dùng cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế; phần dùng cho hoạt động của các lĩnh vực xã hội, an ninh, quốc phòng… Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước và không mang tính hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Tín dụng nhà nước 16 z Tín dụng nhà nước bao gồm cả hoạt động đi vay và cho vay của Nhà nước. Tín dụng nhà nước thường được sử dụng để hỗ trợ Ngân sách nhà nước trong các trường hợp cần thiết. Thông qua hình thức Tín dụng nhà nước, Nhà nước động viên các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính của các cấp chính quyền nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, chủ yếu là thông qua việc cấp vốn thực hiện các chương trình cho vay dài hạn.
Việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi qua con đường Tín dụng nhà nước được thực hiện bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ như: Tín phiếu Kho bạc nhà nước; trái phiếu Kho bạc nhà nước; trái phiếu công trình (ở Việt Nam hiện có hình thức trái phiếu đô thị); Công trái quốc gia (ở Việt Nam là công trái xây dựng Tổ quốc) trên thị trường tài chính. Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ qua hình thức tín dụng nhà nước là mang tính tự nguyện và có hoàn trả. Các Quỹ tài chính nhà nước ngoài Ngân sách nhà nước (gọi tắt là các Quỹ ngoài ngân sách) Các Quỹ ngoài ngân sách là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến động bất thường trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và để hỗ trợ thêm cho Ngân sách nhà nước trong trường hợp khó khăn về nguồn tài chính. Chứng khoán Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán là một phương tiện có thể thỏa thuận và có thể thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính. Chứng khoán gồm các loại: chứng khoán cổ phần (ví dụ cổ phiếu phổ thông của một công ty), chứng khoán nợ (như trái phiếu nhà nước.) và các chứng khoán phái sinh (như các quyền chọn, quy đổi hoặc tương lai. Thị trường chứng khoán: Là nơi mua bán các giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán) cũng như huy động nguồn vốn mới.
Chỉ số chứng khoán: 17 z + Để đo lường sự biến động của giá cả chứng khoán của toàn bộ thị trường, người ta dùng chỉ số chứng khoán. Ví dụ: Chỉ số Nickei (Nhật Bản), Dow Jones (NewYork – Mỹ). Mỗi thị trường có cách tính chỉ số riêng của mình. Chỉ số chứng khoán có thể hiểu là mức giá trung bình của một số loại cổ phiếu của các công ty hàng đầu trên thị trường.
+ Huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Chức năng thứ 2 của thị trường chứng khoán là huy động vốn. Ví dụ, khi một công ty cần phải huy động thêm một lượng vốn thì sẽ tổ chức và phát hành cổ phiếu. Đây là cách huy động vốn nhanh nhất, hiệu quả nhất ngoài hình thức như vay ngân hàng, huy động từ các phương thức khác.
Một số thuật ngữ liên quan: Cổ phiếu: + Số vốn của một công ty được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. + Chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu.
Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phiếu. Trái phiếu: - Trái phiếu là một chứng thư chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Người phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính phủ (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ).Bất động sản Bất động sản (BĐS) được hiểu nôm na là nguồn tài sản lớn “bất động”, không thể di chuyển được… Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khắc gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định” (Điều 174).
Phân loại bất động sản: 18 z BĐS được phân chia thành nhiều loại, với đặc điểm và yêu cầu sử dụng rất khác nhau. Trong quá trình quản lý cần phân loại BĐS theo đặc điểm hình thành và khả năng tham gia thị trường của từng loại để bảo đảm cho việc xây dựng chính sách phát triển và quản lý thị trường BĐS phù hợp với tình hình thực tế. Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, BĐS có thể phân thành ba nhóm: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS không đầu tư xây dựng và BĐS đặc biệt. Nhóm 1: BĐS có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công trình thương mại - dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc.
Nhóm 2: BĐS không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc nhóm này chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng. Nhóm 3: BĐS đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang… Đặc điểm của nhóm này là khả năng tham gia thị trường rất thấp. Thị trường tiền tệ Có 2 cách hiểu về thị trường tiền tệ: Thứ nhất, là thị trường vốn ngắn hạn (dưới 1 năm). Thứ hai, là nơi trao đổi, mua bán các đồng tiền giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính với nhau (bởi bản thân đồng tiền cũng là một loại hàng hóa đặc biệt).
Phân loại thị trường tiền tệ: Căn cứ theo cơ cấu thị trường: Thị trường tiền tệ sơ cấp và thứ cấp Căn cứ theo tiền tệ: Thị trường nội tệ và Thị trường ngoại hối. Căn cứ theo loại công cụ thị trường: Thị trường tiền gửi và tín dụng ngắn hạn; các giấy tờ có giá ngắn hạn Căn cứ phạm vi thị trường: Thị trường tiền tệ liên ngân hàng và Thị trường mở.