CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH Nội dung chính của chương này tác giả cung cấp một bức tranh tổng quan về quá trình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn. Tác giả tóm tắt những thành công của các nghiên cứu trong và ngoài nước đã tìm hiểu về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả, qua đó xác định lỗ hỏng còn thiếu sót của vấn đề nghiên cứu và nhằm minh chứng cho tính cấp thiết của luận văn này.1 Các vấn đề liên quan tới thực trạng thị trường kiểm toán ở Việt Nam Theo bài báo phỏng vấn PGS. TS Đặng Văn Thanh - Chủ tịch hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam khi nói với thực trạng thị trường kiểm toán ở Việt Nam như sau: Hoạt động kiểm toán mới chỉ xuất hiện tại Việt Nam trên 20 năm nhưng hệ thống kiểm toán của chúng ta đã khá đầy đủ, từ KTĐL đến KTNN và kiểm toán nội bộ. Riêng KTĐL hiện có hơn 300 doanh nghiệp kiểm toán được Nhà nước công nhận với gần 2.000 KTV được cấp chứng chỉ hành nghề; đã có Luật KTĐL và xây dựng, ban hành được 37 chuẩn mực kiểm toán mới hiệu lực năm 2014.
Tuy nhiên, bên cạnh đó lĩnh vực KTĐL ở nước ta vẫn tồn tại những hạn chế rất đáng quan tâm. Thứ nhất, quy mô, số lượng các tổ chức hành nghề dịch vụ kiểm toán còn quá nhỏ bé, thậm chí siêu nhỏ. Lực lượng KTĐL cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Tính sơ bộ Việt Nam có khoảng 600.000 doanh nghiệp và chỉ cần 25% trong số đó thuộc đối tượng bắt buộc kiểm toán BCTC thì lực lượng KTĐL hiện nay đã không đáp ứng được.
Vậy nên nhiều công ty thuộc diện bắt buộc kiểm toán nhưng cũng chưa được kiểm toán toàn diện, đầy đủ. Thứ hai, chất lượng dịch vụ hiện cũng chưa đạt được như mong muốn, dẫn tới 2 hệ lụy: các nhà đầu tư chưa tuyệt đối tin tưởng vào BCTC đã được kiểm toán; bản thân các BCTC của doanh nghiệp không bảo đảm được tính chính xác và không ít trường hợp chỉ để đạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 mục đích nào đó chứ không vì mục đích khách quan tin cậy về thông tin kinh tế tài chính. Trên thực tế đã có doanh nghiệp vì để được trợ giá, vì tránh nộp thuế thu nhập thì báo cáo kết quả kinh doanh thua lỗ, khi để cổ phần hóa, để bán được cổ phiếu thì báo cáo lãi và cố chứng minh doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả. Mặc dù, chất lượng kiểm toán BCTC trong doanh nghiệp được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn của các đối tượng quan tâm, nhưng đều có chung mục tiêu là KTV đưa ra ý kiến đúng đắn về tính trung thực của thông tin trên BCTC kiểm toán tại DN.
Hơn nữa, BCTC có tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Theo đó, chất lượng của kiểm toán bảo đảm trung thực, minh bạch, công khai sẽ giúp ích đáng kể cho nhà quản lý, nhà đầu tư và cho chính doanh nghiệp khi sử dụng kết quả kiểm toán. Từ đây, tác giả xin tóm tắt các công trình sau được các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu, mỗi một tác phẩm đều hướng đến các giải pháp về chất lượng thông tin, tính minh bạch của BCTC được trình bày theo các nhóm: 1.1 Bài báo và nghiên cứu khoa học nước ngoài Đối với các bài báo nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế, bên cạnh khá nhiều các nghiên cứu, tác giả tiến hành lựa chọn một số bài báo của các tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin tới BCTC. Một số bài báo tiêu biểu như: [1] Premystaw Kabalski (2009), ‘Comments on the Objective of Financial Reporting in the Proposed New Conceptual Framework’, Eurasian Journal of Business and Economics 2009, 2 (4), page 95 - 111. Mục đích chính của bài báo này là trình bày đề nghị đầu tiên của IASB và FASB về những khái niệm mới trong việc hướng dẫn lập và trình bày BCTC.
Tác giả trình bày và giải thích những giải pháp của đề nghị này. Ông đã xây dựng tóm tắt bảng nội dung, phân tích những điểm quan trọng và cho ra những ý kiến cá nhân về những thay đổi này. Bài báo này tìm kiếm sự đóng góp để thảo luận về những hướng dẫn các khái niệm trong việc lập và trình bày BCTC. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Giacomino và Michael D. Akers (2010), ‘Proposed Financial Statement Changes: Reactions to the FASB - IASB Discussion Paper’, Journal of Business & Economics Research – July, 2010 Mục đích của nghiên cứu này thu thập những ý kiến của những người sử dụng BCTC trong tương lai đó là những sinh viên đã tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp thuộc chuyên ngành Tài chính - Kế toán. Hai tác giả đã nhận thấy những sinh viên có sự đồng tình mạnh về những đề xuất mới của FASB - IASB. Và họ nhận thấy rằng giới học giả đang quan tâm tới thời gian áp dụng, những vấn đề và khó khăn khi truyền tải tới học viên những khái niệm mới về tài sản và nợ phải trả, phân loại hoạt động, bản chất của các giao dịch, mục tiêu chính của những thay đổi này.
[3] Norlia Mat Norwani (2011), ‘Corporate governance failure and its impact on Financial Reporting within selected companies’, International Journal of Business and Social Science, Vol.21 Bài báo này nghiên cứu về vấn đề liên quan giữa Doanh nghiệp nhà nước và BCTC. Bài viết này chủ yếu thảo luận về sự thất bại của các Doanh nghiệp nhà nước liên quan với thất bại trên BCTC. Vài trường hợp được nghiên cứu trong bài báo này đã minh chứng cho những ảnh hưởng của Doanh nghiệp nhà nước đến BCTC như Perwaja Steel, Technology Resources Industries (TRI), Transmile, Megan, Malaysian Airlines System (MAS), Port Klang Free Zone (PKFZ), Enron và WorldCom (WC). Ngoài ra bài báo này còn nêu bật lên những thử thách và các kiến nghị cần được cải thiện.
Sự tuận thủ và giám sát chặt chẽ trở thành điều kiện tiên quyết để thành lập được một Doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả. Tính minh bạch trong BCTC sẽ liên kết các cổ đông thiểu số nhằm tạo ra sự hỗ trợ liên quan tới chủ đề này. Trách nhiệm của KTV được đề cập để cho ra những ý kiến trung thực về vấn đề trên BCTC của Doanh nghiệp nhà nước. [4] Christian Laux và Christian Leuz (2010), ‘Did fair-value accounting contribute to the Financial Crisis?’, Forthcoming in the Journal of Economic Perspectives, 2010.
Cuộc khủng hoảng tài chính đã dẫn tới những tranh luận về Kế toán giá trị hợp lý. Nhiều nhà phê bình đã cho những ý kiến trái chiều về kế toán giá trị hợp lý, cái mà trước đây gọi là kế toán theo giá thị trường, đây là nhân tố gây ảnh hưởng quan trọng tới cuộc khủng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 hoảng tài chính. Trong bài báo này, hai tác giả đã kết nối các lý luận và xem xét vai trò của kế toán giá trị hợp lý trong cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách sử dụng dữ liệu để mô tả và các bằng chứng nhận được từ quan sát và thử nghiệm. Dưa vào thủ thuật phân tích để xác định nguyên nhân nào mà kế toán giá trị hợp lý gây ảnh hưởng tới cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
[5] Ray Ball, Sudarshan Jayaramanv và Lakshmanan Shivakumar (2011), ‘Audited financial reporting and voluntary disclosure as complements: A test of the confirmation hypothesis’, November 9, 2011. Nhóm tác đã thực hiện cuộc điều tra nhằm xác định lại giả thuyết về BCTC đã được kiểm toán và việc trình bày các thông tin riêng của nhà quản lý. Với phí kiểm toán cao hơn (sự đo lường chất lượng trong việc kiểm tra BCTC) thì liên quan tới các dự báo của nhà quản lý như thông tin sẽ được cập nhật thường xuyên hơn, chuyên sâu hơn, chính xác và kịp thời để cho nhà đầu tư sử dụng. Do đó, việc thuyết minh thông tin riêng và BCTC được kiểm toán bổ trợ cho nhau, vai trò kinh tế của chúng không thể tách rời riêng được.
Bằng chứng mà nhóm tác giả này một lần nữa cảnh báo những ảnh hưởng của thông tin gây ra các phản ứng của thị trường, vì thế BCTC được kiểm toán ảnh hưởng gián tiếp tới thông tin tại các điểm thời gian khác nhau và các lĩnh vực kinh tế khác của xã hội. Tóm lại: Các bài báo khoa học của các cá nhân, tập thể đã nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc trình bày thông tin trên BCTC nó ảnh hưởng tới những quyết định của người sử dụng thông tin. Và các nghiên cứu qua từng giai đoạn thời gian cho thấy việc thay đổi, bổ sung cách trình bày thông tin trên BCTC là hết sức quan trọng có thể kể tới những ý tưởng mới như kế toán giá trị hợp lý, công cụ tài chính…Do đó, người viết đề tài nghiên cứu này quyết định chọn đề tài này để thực hiện cuộc khảo sát thực tế thông tin trình bày trên BCKT của các công ty niêm yết tại Việt Nam để từ đó đánh giá thực trạng hiện tại và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên BCKT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Bài báo và nghiên cứu khoa học trong nước Ở đây, tác giả muốn đề cập tới các công trình nghiên cứu trong nước có mối liên hệ đến nội dung đề tài.
Qua sự sàn lọc tác giả ghi nhận được một số công trình phù hợp. Xét một cách tổng thể, việc nghiên cứu thông tin tài chính rất đa dạng nhưng đề tài của tác giả chủ yếu tập trung về thông tin tài chính trên BCTC đã được kiểm toán. Do đó, các nghiên cứu có liên quan sẽ xoay quanh về phương pháp kiểm toán, trách nhiệm của KTV, bản chất của sự đảm bảo được cung cấp, ý kiến của KTV. Nhìn chung, các đề tài này chỉ tập trung vào một trong các khía cạnh có liên quan đến kiểm toán BCTC, hoặc chỉ mới đi vào một góc nhỏ của VAS, IFRS và VSA trong việc vận dụng vào Việt Nam.
Hơn nữa, nếu xét về thông tin đầu ra cung cấp cho người sử dụng thì vẫn chưa được cung cấp và xử lý đầy đủ trong các đề tài được các tác giả khác thực hiện trước đây.