Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề về Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng Nhà nước 1. Khái niệm về Ngân hàng Nhà nước Tiền thân là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, NHNN là cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối.
Đã có một số văn bản và tài liệu đề cập đến khái niệm NHNN, cụ thể như “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”. [16] “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước. “NHTW là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng”.
[2] “Hoạt động của NHNN không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm mục đích ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế”. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước - Chức năng phát hành tiền “NHNN là tổ chức duy nhất phát hành tiền theo các quy định trong luật (mệnh giá tiền, loại tiền, mức phát hành). Giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong một quốc gia và được thanh toán không hạn chế. Khối lượng tiền NHNN cung ứng cho lưu thông ảnh hưởng trực tiếp đến tổng phương tiện thanh toán trong xã hội, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Vì vậy phải xác định đúng lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành, phương thức phát hành để đảm bảo ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Việc phát hành tiền thông qua cơ chế tín dụng ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Một là, khối lượng tiền phát hành vào lưu thông xuất phát từ nhu cầu tiền tệ phát sinh do tăng trưởng kinh tế đòi hỏi. Hai là, tạo khả năng để NHNN thực hiện kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng theo nhu cầu của mục tiêu ổn định tiền tệ” [2].
- Chức năng ngân hàng của các ngân hàng “Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền, NHNN thực hiện cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua việc cung cấp tín dụng cho các NHTM và kiểm soát quá trình tạo tiền của các NHTM. Ở đây, NHTM trở thành khách hàng của NHNN. Khi thực hiện chức năng này, NHNN cung cấp các dịch vụ sau: Một là nhận tiền gửi của các NHTM, bao gồm: + Tiền gửi thanh toán: Để đáp ứng nhu cầu chi trả, các NHTM khi được phép hoạt động đều phải mở tài khoản tại NHNN và gửi tiền vào tải khoản đó theo quy định. + Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Loại hình tiền gửi này áp dụng đối với các TCTD có huy động tiền gửi để kinh doanh.
Mức dự trữ bắt buộc được tính theo tỷ lệ phân trăm (%) trên số vốn huy động. Tỷ lệ này do NHNN quy định trong từng thời kỳ. Mục đích của tiền gửi dự trữ bắt buộc là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, do đó hạn chế khả năng rủi ro thanh toán cho cả hệ thống. Tuy nhiên, theo thời gian, ý nghĩa ngày giảm dần.
Cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ, các hình thức bảo hiểm tiền gửi ra đời đã giảm bớt khả năng xảy ra nhu cầu rút tiền bất thường. Vì vậy, tử lệ dự trữ bắt buộc ở các quốc gia. Hiện nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường đề cập đến với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ. 10 Hai là cho vay đối với các TCTD.
Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN luôn là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các TCTD thông qua hoạt động tái chiết khấu và cho vay có thế chấp giấy tờ có giá. Thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, NHNN tránh rơi vào tình trạng bị động trong việc tài trợ cho các TCTD. Với tư cách này, NHNN thực hiện điều tiết khối lượng tiền cung ứng một cách có hiệu quả. Ba là Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt.
Các TCTD đều mở tài khoản và gửi tiền vào tài khoản này tại NHNN, do đó các TCTD có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNN thông qua hình thức thanh toán bù trừ. Thực hiện quản lý nhà nước đối với các TCTD. Cụ thể: Cấp giấy phép hoạt động. Quy định nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các TCTD phải tuân thủ.
Kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD để đảm bảo an toàn, ổn định, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng. Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng trong các trường hợp vi phạm luật lệ hoặc mất khả năng tài chính sau khi đã áp dụng các biện pháp tác động” [2]. - Chức năng là ngân hàng của chính phủ “Trước hết, NHNN cung ứng phương tiện thanh toán cho hệ thống kho bạc nhà nước, nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, cho nhân sách nhà nước vay khi ngân sách thiếu hụt, bảo quản dự trữ quốc gia về vàng, ngoại tệ và các phương tiện có giá trị ngoại tệ khác. Thứ hai: Thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán đối nội cũng như đối ngoại của đất nước.
Thứ ba: Thay mặt Chính phủ ký tham gia ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Thứ tư: Thay mặt chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài cính quốc tế với cương vị là thành viên của tổ chức này” [2]. Nhiệm vụ của NHNN Nhiệm vụ chủ yếu của NHNN bao gồm [2] Một là, ổn định đồng tiền quốc gia “để duy trì và ổn định giá trị đồng tiền được giao ở mức độ khác nhau trong việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ; Hai là, xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ; Ba là, phát hành đồng tiền pháp quy: việc phát hành tiền vào lưu thông do NHNN độc quyền và đây là nhiệm vụ cơ bản của NHNN; Bốn là, duy trì sự an toàn của hệ thống thanh toán: Khi nền tảng kinh tế càng phát triển cùng với tiến bộ của công nghệ tin học và công nghệ ngân hàng thì an toàn trong thanh toán toàn hệ thống là yêu cầu bức xúc đặt ra đối với NHTW mỗi quốc gia; Năm là, thanh tra, giám sát các TCTD: NHNN tham gia vào hoạt động thanh tra, giám sát ở hai cấp độ khác nhau: Một là thanh tra, giám sát các TCTD; Hai là chỉ đảm nhiệm phối hợp với cơ quan của chính phủ để thanh tra, giám sát các TCTD. Vai trò của NHNN Là một cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ, phụ trách quản lý chính sách tiền tệ cùng với Bộ Tài chính, NHNN có vai trò hết sức quan trọng, cụ thể là: Một là, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông “Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự thúc đẩy mức tăng, giảm tổng sản phẩm quốc nội.
Do vậy, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của NHNN. NHNN thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiếp như: Hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở v. Hai là, thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế “NHNN tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao. Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, NHNN vừa góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế hiện có cho phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế 12 đất nước và hội nhập với sự phát triển kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới, vừa góp phần thiết lập cơ cấu kinh tế hợp lý” [2].
Ba là, ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia “Để ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, một mặt NHNN góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung của toàn xã hội thông qua việc ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia. Mặt khác, NHNN tác động mạnh đến cân đối cung cầu ngoại tệ để giữ vững tỷ giá hối đoái, góp phần ổn định sức mua ngoại tệ của đồng tiền quốc gia. Nhờ đó, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa nâng cao nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [2]. Bốn là, vai trò ổn định hệ thống ngân hàng thông qua nhi ệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng “Với chức năng ngân hàng của các ngân hàng, NHTW chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Theo thể chế của nhiều nước NHTW được giao nhiệm vụ giám sát hệ thống ngân hàng nhằm duy trì sự ổn định và an toàn hệ thống. Theo đó NHTW có trách nhiệm giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiền tệ, ngân hàng, đồng thời ban hành các quy định quản lý hoạt động ngân hàng, đưa ra các biện pháp thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả” [2]. Ngân hàng thương mại 1.