Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT ĐẢNG CỦA CÁC CHI BỘ TRƯỜNG HỌC 1. Chi bộ và sinh hoạt chi bộ trong trường học - Quan niệm, đặc điểm vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ 1. Chi bộ Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Chi bộ là tổ chức cơ sở của một chính đảng” [56, tr 151]. Theo Sách tra cứu các mục từ về tổ chức, “chi bộ” hay “chi bộ đảng” là hình thức tổ chức của nhiều chính đảng.
Ở Việt Nam, các chi bộ của Đảng Cộng sản có vai trò hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Đảng với các tầng lớp nhân dân. Chi bộ được thành lập ở địa bàn dân cư, ở đơn vị sản xuất hoặc công tác, mỗi chi bộ phải có ít nhất ba đảng viên chính thức. Ở các đơn vị cơ sở có đông đảng viên, thành lập nhiều chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Ở các đơn vị có ít đảng viên, chỉ thành lập một chi bộ, đó là chi bộ cơ sở, tức là một tổ chức cơ sở đảng [42].
Sinh hoạt chi bộ 1. Sinh hoạt: Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: sinh hoạt là “sống”, “sinh kế”, là đời sống hoạt động của con người và tổ chức [1. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “sinh hoạt” là những hoạt động tập thể của một tổ chức: sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt chi đoàn, sinh hoạt tổ đảng; tiến hành những hoạt động tập thể; sinh hoạt văn nghệ tại câu lạc bộ [32. Như vậy, sinh hoạt là một loại hoạt động, một phương thức hoạt động của con người, hoạt động đó, phương thức đó được tiến hành bởi một tập thể, 12 một cá nhân nhằm thực hiện một công việc nhất định nào đó bằng cách bàn bạc, thảo luận quyết định các biện pháp để duy trì sự tồn tại của tổ chức, cá nhân.
Sinh hoạt là một điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của con người trong cộng đồng xã hội. Sinh hoạt chi bộ * Quan niệm về sinh hoạt chi bộ Trong cuốn “Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng” của tác giả Đức Lượng: Theo quan điểm của Các Mác và Ăngghen, các nhà kinh điển cho rằng “sinh hoạt đảng” là một phạm trù chính trị, dùng để chỉ hoạt động của một tổ chức đảng mà đảng ấy thuộc về một giai cấp hay một tầng lớp xã hội [38. Đối với Đảng Cộng sản, Các Mác và Ăngghen đặc biệt coi trọng hoạt động lý luận để xây dựng Cương lĩnh chính trị của đảng. Hai ông cũng đã luận chứng một cách khoa học sự cần thiết phải quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; được thể hiện rõ trong hoạt động của “Liên đoàn những người cộng sản” và “Hội Liên hiệp Công nhân quốc tế”; cũng như khi tham gia “Đồng minh những người cộng sản” (năm 1847).
Lênin là người kế tục sự nghiệp của Mác và Ăngghen đã phát triển thêm một bước lý luận về đảng. Lênin đã thảo ra những cơ sở lý luận về tổ chức, chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản, đề ra những tiêu chuẩn về sinh hoạt Đảng và các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Trong đó sinh hoạt đảng dưới hình thức nào cũng đều xoay quanh nội dung chính trị, đấu tranh kinh tế và đấu tranh lý luận. Hồ Chí Minh đã phát triển học thuyết xây dựng Đảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện nước ta lúc bấy giờ - một nước thuộc địa nửa phong kiến với nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân tộc.
Khái niệm sinh hoạt đảng được Đảng ta nêu ra từ khi thành lập Đảng (năm 1930), 13 với ý nghĩa là một nội dung cơ bản trong hoạt động của Đảng. Theo Hồ Chí Minh: Đảng viên và tổ chức đảng thông qua sinh hoạt đảng mà lãnh đạo nhân dân, xây dựng, rèn luyện năng lực, phẩm chất đạo đức cách mạng, gắn bó với nhân dân. Mọi sinh hoạt, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đều quan hệ đến thành bại của sự nghiệp cách mạng và ảnh hưởng lớn đến quần chúng nhân dân. Về nguyên tắc tổ chức, xây dựng đội ngũ và hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh cũng phân tích: Tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ.
Chi bộ do chi ủy lãnh đạo; các thành viên chịu sự lãnh đạo của chi ủy. Trên chi ủy thì có huyện ủy, tỉnh ủy, trung ương. Đảng viên phải thống nhất ý chí, thống nhất hành động, muôn người như một, làm hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân. Theo Sách tra cứu các mục từ về tổ chức thì: “Sinh hoạt đảng là sự gắn kết về trách nhiệm chính trị và tình đồng chí của người đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sinh hoạt đảng trực tiếp và thường xuyên nhất là ở các chi bộ, ở hội nghị đảng viên và hội nghị đại biểu đảng bộ các cấp giữa nhiệm kỳ, ở đại hội đảng viên và đại hội đại biểu đảng bộ thường kỳ hay bất thường ở các cấp, ở hội nghị thường kỳ hay bất thường của cấp ủy các cấp” [42. Trong các văn kiện của Đảng, ngoài cụm từ “sinh hoạt đảng”, “sinh hoạt chi bộ” còn sử dụng các cụm từ: họp tổ đảng, hội nghị đảng, đại hội đảng… Các cụm từ này dù có nội dung, hình thức khác nhau nhưng đều để chỉ những cuộc họp của các thành viên trong khuôn khổ một tổ chức đảng nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Như vậy có thể định nghĩa, sinh hoạt chi bộ (đảng bộ) là sinh hoạt đảng, đó là hoạt động tập thể của toàn thể đảng viên hoặc của đại biểu đảng bộ để bàn bạc, thảo luận, quyết định các chủ trương, giải pháp thực hiện những công việc về xây dựng đảng, xây dựng chi bộ (đảng bộ); thực hiện 14 nhiệm vụ chính trị của chi bộ (đảng bộ) và của địa phương hoặc thống nhất đề nghị cấp ủy cấp trên về những nội dung đó, nhằm xây dựng chi bộ (đảng bộ) trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của chi bộ (đảng bộ) và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, góp phần xây dựng đảng bộ cấp trên và toàn đảng bộ vững mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ cấp trên và nhiệm vụ cách mạng. Hiện nay có 5 loại hình tổ chức cơ sở đảng: Chi bộ địa bàn dân cư thôn (xóm, ấp, bản, tổ dân phố…); Chi bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; Chi bộ doanh nghiệp nhà nước; Chi bộ trong doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; Chi bộ trong lực lượng vũ trang (Quân sự, Công an).
Trong phạm vi luận văn này chỉ nghiên cứu loại hình chi bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nên tác giả chỉ đề cập đến nội dung cụ thể trong sinh hoạt chi bộ của chi bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Đó là: Sự lãnh đạo của chi bộ và tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc xây dựng và thực hiện các quy định, quy chế, nội quy của cơ quan, đơn vị; tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được giao (nghiên cứu tham mưu; giảng dạy, học tập; khám chữa bệnh; thực hiện các đề tài, đề án nghiên cứu khoa học…). Việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực (trong thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức; trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học; trong khám, chữa bệnh…).
Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Quy định của Bộ Chính trị về đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với đảng ủy, chi ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; việc tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ, kiến thức của cán bộ, đảng viên; công tác phát triển đảng viên… 15 1. Đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của sinh hoạt chi bộ 1. Đặc điểm của sinh hoạt chi bộ Sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cũng có thể được gọi là họp chi bộ, đảng bộ gồm 3 loại: sinh hoạt chi bộ thường lệ, bất thường; hội nghị chi bộ, đảng bộ định kỳ và giữa nhiệm kỳ; đại hội chi bộ, đảng bộ theo nhiệm kỳ và có thể có đại hội bất thường khi cần thiết.
Sinh hoạt chi bộ thường kỳ theo quy định của Điều lệ Đảng mỗi tháng một lần, sinh hoạt bất thường khi cần thiết. Một số cuộc sinh hoạt chi bộ có thể gọi là hội nghị chi bộ, tùy theo tính chất, quy mô của cuộc sinh hoạt đó. Vị trí, vai trò của sinh hoạt chi bộ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (Chương V - Tổ chức cơ sở Đảng) quy định: Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Ðảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Như vậy, chi bộ chính là gốc rễ của Đảng trong quần chúng nhân dân.
Sinh hoạt chi bộ là hoạt động thường xuyên của chi bộ, là hình thức lãnh đạo của chi bộ. Vị trí, vai trò quan trọng của sinh hoạt chi bộ thể hiện ở những khía cạnh như: - Sinh hoạt chi bộ là nơi quán triệt và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, của cấp ủy cấp trên đến đảng viên. Đường lối, chủ trương, chính sách cuối cùng phải được đưa xuống chi bộ và thông qua sinh hoạt chi bộ để bàn bạc biến thành chủ trương, biện pháp công tác cụ thể phù hợp với từng đơn vị, thành phong trào hành động cách mạng hàng ngày của đảng viên và quần chúng. Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng ta khẳng định: toàn bộ sức chiến đấu của Đảng cuối cùng phải biểu hiện ở sức mạnh chi bộ trong việc biến đường lối, chính sách của Đảng thành hành động của quần chúng, nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng.
Thông qua chi bộ, bằng hình thức sinh hoạt chi bộ, đường lối, chủ trương, chính sách 16 của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chủ trương của tổ chức đảng cấp trên được truyền đạt tốt nhất đến đảng viên để thực hiện. - Sinh hoạt chi bộ là nơi thảo luận, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp công tác của chi bộ. Mọi công tác của chi bộ đều được bắt đầu thảo luận, lên kế hoạch, tổ chức thực hiện tại sinh hoạt chi bộ.