Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý, khai thác và bảo trì đường và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên đường đô thị. Chương 2: Thực trạng quản lý, khai thác và bảo trì đường và hạ tầng kỹ thuật trên đường đô thị thành phố Quy Nhơn. Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý, khai thác và bảo trì đường và hạ tầng kỹ thuật trên đường đô thị thành phố Quy Nhơn. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ BẢO TRÌ ĐƢỜNG VÀ HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐƢỜNG ĐÔ THỊ.
Cơ sở lý thuyết về khai thác đƣờng phố và đƣờng đô thị Giao thông vận tải đô thị là khái niệm bao hàm tất cả các loại hình vận tải được sử dụng ở các đô thị và khu dân cư. Nó gồm: các loại hình vận tải không dùng ray như xe con, ôtô tải, ôtô buýt và xe điện bánh lốp (ô tô điện); các loại hình vận tải có dùng ray như tàu điện, tàu điện ngầm, và các lọai đường sắt treo và ngầm khác, thường không có liên hệ với vận tải không dùng ray cần phải có đường riêng để xe chạy. Mỗi loại hình vận tải đều bao gồm ba yếu tố: phương tiện vận tải, tuyến đường và các công trình phụ trợ. Khai thác các tuyến đường vận tải không ray có liên quan chặt chẽ với khai thác vận tải nói chung.
Khai thác vận tải không ray (để giảm tiện ta sẽ gọi là vận tải ôtô, kể cả ôtô buýt và xe điện bánh lốp) là một hệ thống phức tạp có quan hệ tương hỗ. Trong hệ đó, hiệu suất công tác của các phương tiện vận tải được quyết định bởi trạng thái của đường (đường phố và đường đô thị). Vì vậy, để việc khai thác đường phố và đường đô thị đạt được hiệu quả cao nhất, người ta nghiên cứu tồng hợp các quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành vận tải ôtô (không dùng ray). Vận dụng các nguyên lý kỹ thuật hệ thống vào vận tải ôtô đô thị, ta có thể hình dung sơ đồ cơ cấu khai thác nó gồm bốn khối: “Con người - đường phố - dòng xe - môi trường xung quanh” (hình 1.
Trong sơ đồ cơ cấu này, khái niệm “con người” là ngụ ý chỉ tất cả những ai tham dự vào khai thác vận tải (người lái xe, nhân viên cơ quan quản lý đường sá, Cục kiểm tra ôtô nhà nước, người đi bộ). “Đường phố và đường đô thị” là khái niệm bao hàm tất cả mọi công trình được sử dụng để thông qua dòng xe. “ Dòng xe” bao gồm tất cả những thành phần tham gia đi lại trên đường phố và đường đô thị như: ôtô, xe điện bánh lốp, ôtô buýt và bộ hành. “Môi trường xung quanh” là khái niệm chỉ các nhân tố thiên nhiên (kể cả bầu khí quyển), các bộ phận của đường phố và đường đô thị nằm ở trên và ngầm dưới mặt đất.
Trong sơ đồ cơ cấu có thể chia ra thành nhiều các hệ con. Trong đó một số hệ có liên quan nhiều đến người lái xe, nhân viên điều hành giao thông, người thiết kế chế tạo ôtô. Một số khác lại liên quan đến những nhân viên có trách nhiệm về khai thác và về trạng thái của các công trình trên đường. Tất cả các hệ con đều có quan hệ tương hỗ với nhau, nhưng khi nghiên cứu các vấn đề về khai thác đường đô thị người ta chú ý nhiều nhất đến những hệ có ảnh hưởng tới trạng thái của đường.
Rõ ràng các hệ quan trọng nhất là: “dòng xe - đường phố”, “môi trường xung quanh - dòng xe” và “môi 4 trường xung quanh - đường phố”. Phân tích các hệ con này là cơ sở lý thuyết về khai thác ngành đường đô thị.1: Sơ đồ cơ cấu logic về tác dụng tương hỗ giữa các hệ con cơ bản của khai thác vận tải ô tô đô thị Nghiên cứu hệ con 8 và liên hệ ngược của nó 9 - “dòng xe - đường phố” cho phép ta đánh giá trạng thái ứng suất - biến dạng của áo đường và các công trình khác, nguồn gốc phát sinh những biến dạng và phá hoại. Phân tích hệ con “dòng xe - đường phố” cho phép: Nghiên cứu trạng thái động của sự tương tác giữa ôtô với bề mặt mặt đường không bằng phẳng. Xác lập được quan hệ giữa tốc độ xe chạy với đặc tính của ôtô và các số liệu thống kê về trắc diện vi mô của mặt đường.
Xác định ảnh hưởng của độ bằng phẳng mặt đường trong những điều kiện khí hậu khác nhau đến tốc độ chạy xe, và có cơ sở quy định độ bằng phẳng cho phép đối với đường phố và đường đô thị thuộc các cấp hạng khác nhau. Tất cả những điều đó cho phép giải quyết một cách tổng hợp vấn đề tiêu chuẩn hóa tốc độ xe chạy, và luận chứng một cách khoa học tiêu chuẩn tiến hành sửa chữa tùy thuộc vào độ bằng phẳng của mặt đường. Nghiên cứu hệ con 8, có thề phát hiện được những nguyên nhân làm biến dạng, hư hỏng áo đường và các công trình khác có xét đến tải trọng động, tần số và thời gian tác dụng tải trọng, mức độ trùng phục. Xác định các tiêu chuẩn về trạng thái giới hạn của áo đường và các công trình mà xe không thể chạy với tải trọng và tốc độ đã định dẫn đến việc vận chuyển không kinh tế.
5 Đồng thời có thể luận chứng theo cách mới vấn đề chất lượng đường và áp dụng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật về khai thác đế đánh giá mức độ chất lượng khai thác của nó. Dựa vào quan hệ giữa các chỉ tiêu này với chế độ của dòng xe, kết cấu và độ bền của các công trình trên đường, loại mặt đường, điều kiện khí hậu và địa chất thủy văn, có thể xác định được mức độ tin cậy của các công trình trên đường, xác lập các phương pháp chọn loại công tác sửa chữa và định kỳ sửa chữa. Phân tích hệ con 8 giúp ta giải quyết được các vấn đề về năng lực làm việc và thời hạn phục vụ giữa các kỳ sửa chữa của công trình. Đó là những vần đề có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn dự trữ vật tư, tiền vốn, tới việc lập kế hoạch và cấp kinh phí để tiến hành các loại công tác sửa chữa khác nhau.
Hệ con 10 - “Môi trường xung quanh - đường phố” và 12 - “Môi trường xung quanh - dòng xe” là những mô hình dựa trên sự tương tác giữa các nhân tố thiên nhiên với đường phố và dòng xe. Việc nghiên cứu hệ con 10 có ý nghĩa lớn về khoa học và thực tiễn. Đối vớỉ các vùng khí hậu khác nhau phải giải quyết các bài toán phát sinh khi khai thác đường và đường phố tùy theo chế độ thủy - nhiệt và điều kiện thủy văn của chúng. Điều đó cho phép tính ra chiều dày và kết cấu các lớp thoát nước, cách nước và cách hơi.
Cần lưu ý rằng, các quy luật của chế độ thủy - nhiệt trên các đường ôtô ngoài đô thị hiện đã biết rõ, nhưng trên các đường phố và đường đô thị thì do những điều kiện đặc thù của đô thị, nó hiện vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Các hệ con 10 và 12 liên quan mật thiết với việc bảo vệ môi trường xung quanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các điểm dân cư khi có sự tập trung dân cư trên phần lãnh thổ không lớn lắm. Việc bảo vệ môi trường xung quanh con người bao gồm một hệ thống biện pháp phù hợp với quan niệm tâm lý - xã hội hay khoa học (mang tính toàn cầu hiện nay) về những nhu cầu sinh hoạt của con người, đảm bảo cho sự ồn định về tâm lý xã hội và đầy đủ sức khỏe.
Định nghĩa đó chỉ cho thấy những công việc to lớn bắt nguồn từ sự cần thiết phải bảo vệ môi trường khi xây dựng và khai thác đường. Cần phải đánh giá các loại vật liệu được dùng để xây dựng và khai thác trên quan điểm xét đến tác dụng độc hại có thể có của chúng tới con người và cây cỏ. Tiếng ồn và sự phát triển các bệnh thần kinh do tiếng ồn gây ra có liên quan chặt chẽ với việc quy hoạch và thiết kế đường phố và đường đô thị, trong đó cần phải xét đến mức độ áp lực tiếng ồn cho phép. Hệ con 12 đòi hỏi các nhà chế tạo ôtô xét đến tác động của môi trường xung quanh khi thiết kế cấu tạo các bộ phận riêng biệt (bánh xe, nhíp v.v…) và toàn bộ ôtô nói chung.
Các hệ con 6, 10 và mối liên hệ ngược của các hệ con 5, 12 xác định các điều kiện giữ gìn bảo vệ môi trương xung quanh. 6 Hệ con 3 - “con người - đường phố” đặc trưng cho sự tác động của con người lên đường phố, tức là thể hiện khả năng của những nhân viên làm việc ở các cơ quan quản lý đường và Cục kiêm tra ôtô nhà nước đảm bảo chất lượng khai thác cần thiết của đường phố và đường đô thị. Hệ này bao quát một phạm vi rộng các vấn đề: Luận chứng phương pháp tổ chức và thi công sửa chữa đường hợp lý; Lựa chọn và quyết định máy thi công; Thời gian sử dụng máy không gây cản trở bất tiện cho dân cư, cho người lái xe và hành khách; Thiết lập định mức chi phí lao động cho các loại công tác sửa chữa khác nhau. Công tác khai thác đường phố và đường đô thị không chỉ dựa trên tất cả những hệ con cơ bản vừa phân tích mà còn dựa trên tất cả những hệ con còn lại vì chúng cũng có ảnh hưởng và xác định các điều kiện khai thác đường ôtô.
Các bộ phận cấu thành của ngành quản lý đƣờng đô thị Đường phố, quảng trường và đường đô thị chiếm một phần diện tích lãnh thổ đô thị và tạo thành mạng lưới giao thông phục vụ cho sự đi lại của bộ hành và tất cả các loại phương tiện vận tải đô thị. Bên dưới đường phố, quảng trường và đường đô thị người ta bố trí mạng lưới công trình ngầm và xây dựng các công trình phụ, còn bên trên thì lắp đặt thiết bị chiếu sáng và trồng cây xanh.