Chương 1. Cơ sở lý luận chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản Chương 2. Thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Châu Đốc Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Châu Đốc 6 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Một số vấn đề chung về dự án 1.1 Khái niệm đầu tƣ & dự án đầu tƣ * Khái niệm đầu tư: Có rất nhiều tranh cãi về “ khái niệm đầu tƣ nhƣng xét theo nghĩa chung nhất là sự bỏ ra hay sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt các kết quả, thực hiện đƣợc các mục tiêu nhất định trong tƣơng lai ” theo luật đầu tƣ 2005. Đầu tƣ đƣợc hiểu là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật Đầu tƣ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Ngoài ra đầu tƣ còn đƣợc định nghĩa là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục đích thu về lợi nhuận hoặc các mục đích về kinh tế xã hội. Thực chất đầu tƣ là hoạt động kiếm lợi nhuận cho chủ đầu tƣ và mang lợi ích cho kinh tế xã hội. Tuy nhiên đứng dƣới các góc độ khác nhau thì nó cụ thể nhƣ sau: Theo quan điểm tài chính: Đầu tƣ là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tƣ nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn sinh lời. Theo góc độ tiêu dùng: Đầu tƣ là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu về một mức độ tiêu dùng nhiều hơn trong tƣơng lai.
Để có thể hiểu rõ bản chất của hoạt động đầu tƣ chúng ta cần làm rõ những yếu tố nhƣ: Nguồn lực đầu tƣ, hoạt động đầu tƣ, đối tƣợng của hoạt động đầu tƣ. Nguồn lực đầu tƣ: Theo nghĩa hẹp đƣợc hiểu là bao gồm tiền vốn, còn theo nghĩa rộng nó bao gồm vốn bằng tiền, đất đai, máy móc, lao động. Mục đích cuối cùng của các hoạt động đầu tƣ là thu đƣợc những kết quả nhất định lớn hơn so với nguồn lực đã bỏ ra. Kết quả này cũng biểu hiện dƣới nhiều hình thức: với chủ đầu tƣ đó là lợi nhuận, với nền kinh tế đó là sự thoả mãn nhu cầu cho sinh hoạt và sản xuất, 7 Luan van đóng góp cho ngân sách nhà nƣớc, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, cải thiện đời sống cho các thành viên trong xã hội.
Đối tƣợng của hoạt động đầu tƣ: Đầu tƣ vào tài sản hữu hình là tài sản, vật chất, máy móc, kỹ thuật…; Đầu tƣ vào tài sản vô hình: nghiên cứu và phát triển, dịch vụ ,quảng cáo, thƣơng hiệu…; Đầu tƣ vào tài sản sản xuất hay đầu tƣ vào tài sản lâu bền. * Khái niệm về dự án đầu tư: Theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP về quy chế quản lý đầu tƣ và xây dựng cơ bản: “ Dự án đầu tƣ là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lƣợng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian nhất định”. - Về mặt hình thức Dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. - Về mặt nội dung Dự án đầu tƣ là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau nhằm đạt đƣợc những mục đích đã đề ra thông qua nguồn lực đã xác định nhƣ vấn đề thị trƣờng, sản phẩm, công nghệ, kinh tế , tài chính… Vậy, dự án đầu tƣ phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu đƣợc đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể.
Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ. Sử dụng đầu vào đƣợc hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ… Khái niệm dự án đầu tƣ Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tƣợng quản lý để điều khiển đối tƣợng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Quản lý đầu tƣ chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng quá trình đầu tƣ (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ và vận hành kết quả đầu tƣ cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tƣ tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận 8 Luan van dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tƣ nói riêng. Quản lý dự án là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào hoạt động dự án nhằm đạt đƣợc những yêu cầu và mong muốn từ dự án.
Quản lý dự án còn là quá trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt và đạt đƣợc các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ , bằng những phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu: - Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần đƣợc hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự lôgic mà có thể biểu diễn đƣợc dƣới dạng sơ đồ hệ thống. - Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. - Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng.2 Vai trò của dự án đầu tư * Vai trò của dự án đầu tƣ: - Dự án đầu tƣ là biểu hiện cụ thể của một hoạt động đầu tƣ, trong đó chỉ rõ lý do, nội dung, hiệu quả, giai đoạn hình thức thực hiện.
Do đó là cơ sở cụ thể để quản lý đầu tƣ xây dựng. - Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng nhất để quyết định sự bỏ vốn đầu tƣ của chủ đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ là phƣơng tiện để tìm đối tác trong và ngoài nƣớc liên doanh bỏ vốn đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ là phƣơng tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nƣớc tài trợ hoặc cho vay vốn.
- Dự án đầu tƣ là cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tƣ, theo dõi, đôn đốc của quá trình thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện của dự án. 9 Luan van - Dự án đầu tƣ là văn bản để các cơ quan quản lý nhà nƣớc xem xét, phê duyệt, cấp giấy phép đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng để theo dõi, đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại và vƣớng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình. - Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng để xem xét xử lý hài hoà mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các liên doanh, giữa các liên doanh và nhà nƣớc Việt Nam, và đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh.
- Dự án đầu tƣ còn là căn cứ quan trọng để xây dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều lệ của xí nghiệp liên doanh. * Kết luận Với những vai trò quan trọng nhƣ vậy cho nên không thể coi việc xây dựng một dự án đầu tƣ là một việc làm chiếu lệ để tìm đối tác, để xin cấp vốn, vay vốn, xin giấy phép mà phải coi là một công việc quan trọng, nghiêm túc bởi nó xác định quyền lợi, nghĩa vụ của chính bản thân các đơn vị lập dự án trƣớc đối tác nƣớc ngoài, trƣớc nhà nƣớc và nhân dân.3 Những đặc đ ểm cơ bản của dự án đầu tƣ – Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu nhƣ không lặp lại.
Tuy nhiên ở nhiều dự án tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tƣơng tự giữa chúng. – Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tƣơng tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ chủ đầu tƣ, ngƣời hƣởng thụ dự án, các nhà tƣ vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nƣớc. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tƣ mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thƣờng xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhƣng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thƣờng xuyên mối quan hệ với các bộ phận qnảu lý khác. 10 Luan van – Môi trƣờng hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức.
Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… – Tính bất định và độ rủi ro cao.