Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng chất lượng nhân lực tại Công ty Cổ phần Công nghệ Giáo dục Omni School. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Công ty Cổ phần Công nghệ Giáo dục Omni School. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Mội số khái niệm cơ bản 1.1 Nhân lực Trong quá trình sản xuất kinh doanh từ xưa đến nay, nhân lực là một trong các nguồn lực quan trọng không thể thiếu và gắn liền với bất kỳ nền sản xuất của xã hội nào.
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực nói chung và nhân lực nói riêng, cụ thể như: Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Lao động – Xã hội đã nêu định nghĩa: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [16, Trg. Khái niệm này chỉ ra nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong đội tuổi lao động có khả năng lao động. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chính (2008), Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội định nghĩa: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chi sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.101-102] Nguyễn Sinh Cúc (2015), “Nguồn nhân lực và phát triển nhân lực”, Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2015, phân tích dưới góc độ kinh tế phát triển đã phát biểu: “Nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động.15] Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn, Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản (2016), NXB Thống kê đã nêu định nghĩa: “Nhân lực trong doanh 14 nghiệp/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong doanh nghiệp/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp/doanh nghiệp.17-18] Các khái niệm trên cho thấy nguồn nhân lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Trong khuôn khổ luận văn, học viên sử dụng định nghĩa về nhân lực như sau: “Nhân lực là toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người ở dạng thực tế và tiềm năng được huy động vào quá trình lao động.2 Chất lượng nhân lực Đỗ Văn Phức (2004), Giáo trình Quản lý nhân lực của doanh nghiệp, NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội, đã viết: “Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và cơ cấu các loại khả năng lao động cần thiết cho việc thực hiện, hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt và trong tương lai xác định. Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp thể hiện ở sức mạnh hợp thành của các khả năng lao động. Tuy nhiên, trong doanh nghiệp chất lượng lao động còn được đánh giá qua mối quan hệ chi phí, thời gian lao động với hiệu quả công việc.
Bùi Văn Nhơn (2006), Giáo trình Quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong xã hội, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động; phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có 15 tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.74] Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Lao động – Xã hội đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế-xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư. Khi bàn về chất lượng nhân lực và nhân lực chất lượng cao không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lượng nhân lực nói chung của một quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường về kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học, có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác, có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Như vậy theo học viên: “Chất lượng nhân lực của Doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động được thể hiện qua các yếu tố như: thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp.3 Nâng cao chất lượng nhân lực Khi nền kinh tế chuyển dần sang nền kinh tế hội nhập quốc tế và công nghệ 4.0, nhân lực đặc biệt là nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó.
Các lý thuyết tăng trưởng đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba nền tảng cơ bản: công nghệ mới, phát triển cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nhân lực. Trong đó thì động lực đóng vai trò quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Một nhân lực chất lượng cao là nhân lực được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo nhằm trở thành nguồn vốn con người – nguồn vốn nhân lực. 16 Dưới khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, học viên đưa ra khái niệm: “Nâng cao chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là quá trình nâng cao thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc mà người lao động đảm nhận.” Trong đề tài này, học viên chỉ tập trung phân tích các hoạt động nâng cao kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp người lao động trong doanh nghiệp.2 Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nhân lực của doanh nghiệp Trong phạm vi một doanh nghiệp, chất lượng nhân lực thể hiện trình độ phát triển của tổ chức đó và dựa theo mô hình ASK, tiêu chuẩn năng lực gồm Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill), Tố chất/Thái độ (Attitude) hay còn được gọi là phẩm chất nghề nghiệp của người lao động (phẩm chất đạo đức, ý thức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, sự chuyên tâm trong công việc,.) trong sự so sánh với tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp công việc cụ thể mà người lao động đảm nhận.
Đây là mô hình rất phổ biến trong quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân. Trong mô hình này, thì kiến thức và kỹ năng thuộc về trí lực.1 Mức độ đáp ứng về kiến thức so với yêu cầu công việc Kiến thức và trình độ chuyên môn của NLĐ trong một doanh nghiệp là một tiêu chí rất quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực của doanh nghiệp đó, bởi trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, sáng tạo ra những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, ở phần lớn các doanh nghiệp sở hữu đội ngũ NLĐ có trình độ chuyên môn cao thì doanh nghiệp đó phát triển rất nhanh bởi nhân lực có trình độ cao thì khả năng tiếp thu, vận 17 dụng và khả năng sáng tạo trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như trong quản lý sẽ nhanh và hiệu quả hơn. Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nào đó.
Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học và có khả năng thực hiện hoặc chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định như kế toán, marketing, công nghệ thông tin. Vì vậy trình độ chuyên môn của nhân lực được đo lường thông qua bằng cấp của NLĐ như trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Tại mỗi công việc, NLĐ cần có các kiến thức liên quan phục vụ công việc của mình, đó có thể là yêu cầu kiến thức về ngoại ngữ, kiến thức về tin học, kiến thức về sản phẩm của công ty, kiến thức về ngành. Chỉ khi mỗi NLĐ có kiến thức đáp ứng yêu cầu công việc, họ mới có thể hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Đánh giá mức độ đáp ứng kiến thức so với yêu cầu công việc, cần đánh giá trên: - Kiến thức văn hóa, xã hội: Mức độ hiểu biết chung của cá nhân đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. - Kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ: Những kiến thức cơ bản đã được nhà trường, cơ sở đào tạo cung cấp theo từng chuyên ngành: công nghệ thông tin, kế toán, marketing, quản trị doanh nghiệp, … - Kiến thức khách hàng: Kiến thức chung về hành vi mua hàng đã được cung cấp trong quá trình học và cụ thể hóa đối với sản phẩm, dịch vụ Công ty. - Kiến thức về thị trường: Kiến thức chung về hành vi khách hàng đã được cung cấp trong quá trình học và cụ thể hóa đối với sản phẩm, dịch vụ của Công ty. 18 - Kiến thức về đối thủ cạnh tranh: Nhận diện và tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng: điểm mạnh, điểm yếu, đặc điểm vị trí của họ trên thị trường.
- Kiến thức về pháp luật: Hiểu biết về quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực đang công tác. Ngoài kiến thức trên thì nhà quản trị còn cần đánh giá các kiến thức về quản trị khác như: - Kiến thức về quản trị chiến lược: Lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh cho công ty: chiến lược cạnh tranh, chiến lược phát triển, chiến lược sản phẩm,.