Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực a) Khái niệm về nhân lực Có thể thấy “Nhân lực” là một khái niệm đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu một cách khác chi tiết. Về mặt ngữ nghĩa “Nhân lực” thì “Nhân” có nghĩa là người còn “lực” là chỉ sức mạnh.
Vậy “Nhân lực” ở đây có nghĩa là chỉ sức mạnh của con người, mà sức mạnh ở đây có thể là sức mạnh về cơ bắp và cũng có thể là sức mạnh về trí tuệ. Có người thì cho rằng, nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người - mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động - của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển (Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân, 2004, tr. Theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực (Trần Xuân Cầu, 2012) của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì cho rằng: Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, nguồn lực với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác; Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát 9 triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Phần lớn các tài liệu nghiên cứu trong nước hiện nay lại cho rằng: Nhân lực là tổng thể những tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách của người lao động theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động của một quốc gia, một địa phương, vùng, miền trong những thời kỳ nhất định (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Tóm lại, có thể hiểu “Nhân lực là tổng thể nguồn lực con người bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động trong một tổ chức hay một địa phương, một quốc gia hay cao hơn nữa là của cả một khu vực hay một nhóm các quốc gia”. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì “Nhân lực” được giới hạn trong một tổ chức. Tổ chức ở đây có thể là một công ty, một doanh nghiệp, một cơ quan tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh.
b) Khái niệm về nguồn nhân lực Khi bàn về nhân lực người ta thường bàn tới cả nguồn nhân lực. Đây là lực lượng lao động đang và sẽ bổ sung vào hoạt động lao động sản xuất để tạo ra hàng hóa và dịch vụ của mỗi công ty, mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Việc hiểu thế nào về nguồn nhân lực cũng rất đa dạng: - Tiếp cận theo cách của các tổ chức quốc tế: Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Còn Ngân hàng Thế giới thì cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”.
1 1 Nguyễn Sinh Cúc (2014), Nguồn nhân lực và phát triển nhân lực, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 2-2014 (http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tu-dien-mo/item/788-nguon-nhan-luc-va-phat-trien-nguon-nhan- luc.html) 10 Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. - Tiếp cận dưới góc độ kinh tế phát triển: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: (1) Về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; (2) Về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Ở đây, nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: Số lượng và chất lượng. Theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: (1) Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm; (2) Những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học;… 11 - Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị: Nguồn nhân lực là một nguồn tài nguyên đặc biệt, nó là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Do đó, một quốc gia muốn phát triển bền vững thì cần phải tích cực đầu tư để phát triển nguồn lực này cả về mặt thể lực (thể chất), trí lực (trí tuệ) và tâm lực (đạo đức xã hội). Nguồn nhân lực ở đây chính là những người lao động đang và sẽ bổ sung vào nguồn lực lao động trong đó có lực lượng học sinh sinh viên đang được nuôi dưỡng học tập tại các cơ sở lao động.
Tóm lại, có rất nhiều cách hiểu khác nhau nhưng hiểu theo một cách tổng quát nhất thì “Nguồn nhân lực là phạm trù dùng để chỉ sự tiềm ẩn của toàn thể thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia hay mỗi khu vực đang và sẽ có thể tham gia vào lực lượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của tổ chức, địa phương, quốc gia hay khu vực”. Đối với một công ty, nguồn nhân lực phải được xem cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động, cụ thể là: Về số lượng, nó chính là sự phản ánh quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực; Về chất lượng, nó thể hiện thông qua thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực và trí lực của nhân lực trong công ty được thể hiện ra bằng sức khỏe của người lao động, kỹ năng lao động, thái độ và ý thức lao động, tác phong làm việc; Về cơ cấu lao động, nó thể hiện theo các tiêu thức chất lượng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực như cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi, theo giới tính, theo trình độ chuyên môn. Khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm mà vẫn còn có khá nhiều cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm thì cho rằng “Chất lượng nguồn nhân lực 12 là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” (Trần Xuân Cầu, 2012). Theo khái niệm này thì chất lượng nguồn nhân lực nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các yếu tố về con người ở bên trong của tổ chức. Có quan điểm khác thì cho rằng chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng 2 tiêu chí là (1) năng lực hoạt động của NNL và (2) phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó (Phùng Dân, 2008). Ở đây, năng lực hoạt động là năng lực có được thông qua giáo dục và đào tạo hoặc qua thực tiễn thời gian làm việc, hoặc có thể được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc trong tổ chức.
Còn phẩm chất đạo đức là khả năng giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm, làm việc có lương tâm. Đây là khái niệm rất mơ hồ và khó có tiêu chí nào làm thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực. Tuy khó nhưng cũng có thể đánh giá phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực thông qua các đánh giá của đồng nghiệp, của người thân, bạn bè và cộng đồng sống xung quanh của người đó. Trong Giáo trình Nguồn nhân lực của Trường đại học Lao động - Xã hội thì cho rằng “chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư 2” (Nguyễn Tiệp, 2007).
Theo khái niệm này thì chất lượng nguồn nhân lực gắn với tố chất bên trong của con người trong tổ chức đó. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm phản ánh một cách tổng thể chất lượng của thể lực, trí lực và tâm lực đang có của một tổ chức, một doanh nghiệp mà cao hơn là một quốc gia, một khu vực.