CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Thuật ngữ “Nhân lực” xuất hiện lần đầu vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX, khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại - quản lý trên cơ sở lấy con người tức nhân viên làm trung tâm thay vì cứng nhắc đặt công ty đứng hàng đầu. Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng.
Nguồn lực thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc nguồn lực bao gồm sức khỏe, trình độ, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo,… Thực tế đã chứng minh vai trò của con người trong sản xuất là vô cùng quan trọng, nhân lực là yếu tố trung tâm trong mọi yếu tố khác của sản xuất. Khi không có nhân lực, mọi yếu tố khác sẽ không được vận hành, sử dụng vào sản xuất. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực như sau: Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS.Nguyễn Vân Điềm, Giáo trình Quản trị nhân lực (2015), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân – Hà Nội: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Trong đó, thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người”.
[32, Tr 7] Cũng theo PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2012), Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội: “Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động”(Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động). [2,Tr 12] Luan van 8 Xét trên góc độ trong từng doanh nghiệp thì: Nhân lực được hiểu là “Nguồn lực của mỗi con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất” mà yếu tố tạo ra nguồn lực này gồm có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp. Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Như vậy, với mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra một khái niệm khác nhau về nhân lực. Khái niệm cũng phân định rõ ràng 3 khía cạnh của nhân lực là kiến thức, kỹ năng, phẩm chất. Do đó, với đề tài này tác giả đi theo hướng tiếp cận này. Chất lượng nhân lực tại doanh nghiệp bảo hiểm Có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng nhân lực tùy theo góc độ và mục tiêu của người tiếp cận.
Nhưng nhìn chung các quan niệm tương đối thống nhất ở khái niệm sau: Chất lượng nhân lực có thể được hiểu là: “Chất lượng nhân lực, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên nhân lực được biểu hiện thông qua các tiêu thức như: Sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn… Chất lượng nhân lực do trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đầu tư phát triển nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định” - PGS.Mai Quốc Chánh và PGS.TS Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2012), NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội. Từ khái niệm nêu trên, tác giả sử dụng khái niệm về chất lượng nhân lực của PGS.TS Mai Quốc Chánh và PGS.TS Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2012), NXB Đại học kinh tế quốc dân như sau: Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức của người lao động. Nâng cao chất lượng nhân lực tại doanh nghiệp bảo hiểm Luan van 9 Kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu của xã hội về bảo hiểm sẽ ngày càng cao.
Do đó đòi hỏi DNBH sẽ càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, cả về chiều sâu và chiều rộng, cả về quy mô và hình thức, cả về mưu độ và phạm vi. Nhưng trong đó cơ bản là về chất lượng tức là đòi hỏi sự phát triển về chiều sâu của DNBH Việt Nam. Mặt khác, kinh tế thị trường càng phát triển thì tính cạnh tranh của các DNBH trong nền kinh tế nói chung và trong ngành bảo hiểm nói riêng ngày càng gay gắt. Đối với DNBH thì chất lượng nhân lực là nhân tố có tính chất quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng chính là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của DNBH.
Hơn nữa xã hội càng phát triển, dân trí càng cao thì nhu cầu đòi hỏi của khách hàng bảo hiểm đối với chất lượng dịch vụ bảo hiểm càng cao. Tất cả những yêu cầu đó đòi hỏi các DNBH phải chú ý không ngừng nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ CBNV của doanh nghiệp cả về thể lực, trí lực, tâm lực. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng, thì các DNBH nước ngoài sẽ ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Ngược lại, các DNBH Việt Nam cũng phải ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ở nước ngoài.
Điều đó có nghĩa là cạnh tranh giữa các DN trong và ngoài nước ngày càng gay gắt trong lãnh thổ quốc gia cũng như quốc tế. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DNBH Việt nam trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đó, nhân tố có tính quyết định là phải nâng cao chất lượng nhân lực bảo hiểm. Chính vì các lý do trên nên có thể khẳng định rằng việc nâng cao chất lượng nhân lực trong một DN là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào. Một lực lượng lao động chất lượng cao luôn là lợi thế cạnh tranh vững chắc cho các doanh nghiệp.
Ở một khía cạnh khác, đầu tư vào con người được xem là cách đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng nhanh, bền vững của một doanh nghiệp, đảm bảo khả năng lành nghề của đội ngũ công nhân, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm bớt tai nạn lao động. Các yếu tố cấu thành chất lượng nhân lực Luan van 10 1. Về kiến thức Kiến thức được xác định bởi trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc. Kiến thức thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau.
Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình lao động sản xuất. Kiến thức của con người là một yếu tố đầu tiên và quan trọng cấu thành năng lực của con người. Kiến thức là quá trình tích lũy từ học tập, nghiên cứu, đào tạo trong công việc và sự quan sát, học hỏi của cá nhân. Một số kiến thức có thể xác định thành các tiêu chuẩn, một số kiến thức khó xác định và đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá.
Trình độ học vấn. Bùi Thị Ngọc Lan: “Trình độ học vấn là khả năng về tri thức và kĩ năng để có thể tiếp thu những kiến thức chuyên môn, kĩ thuật, sự hiểu biết về chính trị - xã hội. Trình độ học vấn được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân” [8,Tr21]. Như vậy, trình độ học vấn của người lao động là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trí lực người lao động, là một trong những cơ sở để đánh giá chất lượng nhân lực nói chung.
Nó là nền tảng kiến thức đầu tiên để người lao động có khả năng nắm bắt được những kiến thức chuyên môn kĩ thuật phục vụ trong quá trình lao động sau này. Nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện đào tạo, tái đào tạo phục vụ cho hoạt động nâng cao chất lượng nhân lực của mình. - Trình độ học vấn: là tiêu chí về trí thức để người lao động có thể tiếp thu chuyên môn, nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật. Trình độ học vấn của người lao động có được nhờ học tập ở các trường phổ thông từ bậc tiểu học đến phổ thông trung học ở các trường chính quy và các trường ngoài công lập.
Trình độ học vấn cũng có được khi người lao động tự học mà không qua trường lớp. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi người lao động phải có học vấn cao để học tập ở các trường về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và sử dụng được Luan van 11 các phương tiện, công cụ hiện đại. Trình độ học vấn cao (thấp được biểu hiện ở khả năng tiếp thu những sáng chế phát minh, những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến. Quá trình CNH – HĐH càng đi vào chiều sâu, thì càng đòi hỏi trình độ văn hóa của NNL ngày càng cao.
Trình độ học vấn của nhân lực được đánh giá theo các tiêu chí về tỷ lệ lao động biết chữ và tỷ lệ lao động có trình độ văn hóa theo các bậc, như: tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học,. Nâng cao trình độ văn hóa không chỉ có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nhân lực của cả quốc gia mà nó còn có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp nào có tỷ lệ lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học, trên đại học,… càng lớn thì doanh nghiệp đó có trình độ trí lực càng cao Trình độ chuyên môn kĩ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó.
Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy.