phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn có kết cấu 4 chương, cụ thể: 3 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực. Chƣơng 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trang chất lượng nhân lực và công tác nâng cao chất lượng nhân lực tại NHCSXH chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại NHCSXH chi nhánh Hà Nội đến năm 2020. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, hầu hết các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực đều có điểm trung là nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Từ lâu các nhà kinh tế đã quan tâm đến vai trò của vốn con người trong phát triển kinh tế và trong các quá trình sản xuất kinh doanh (Becker 1962; Kendrick, 1976; Schultz, 1961). Cơ sở của lý thuyết vốn con người là việc đầu tư vào con người để gia tăng năng suất lao động của họ (Từ điển kinh tế hiện đại Macmillan, 1992).
Những sự đầu tư này bao gồm đào tạo trong trường và đào tạo trong quá trình làm việc. Lý thuyết vốn con người là nền tảng của nhiều phát triển của các lý thuyết kinh tế. Những đóng góp này có thể được tóm tắt như sau: Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Sự gia tăng vốn con người dẫn tới sự gia tăng sản lượng.
Từ đó việc nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt cho lao động sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất. Việc nâng cao vốn nhân lực cần tới những khoản đầu tư vào giáo dục. Sự nhìn nhận giáo dục là một sự đầu từ bắt nguồn từ thời Adam Smith (1776) trong tác phẩm “ Tìm hiểu về bản chất và của cải của các quốc gia” năm 1776 (An Inquiry into the Nature and Causes of The Wealth of Nations) (1776). 5 z Năng lực, kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và cả những kinh nghiệm của con người được hình thành và tích luỹ thông qua quá trình đào tạo chính quy, quá trình sống và làm việc.
Mức vốn con người được tích luỹ nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động. Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường lao động (George J. Để có được những năng lực này người ta cần phải bỏ ra chi phí nhất định để học hành trong các trường học cuối cùng những trải nghiệm trên đường đời, nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao - chi phí đầu tư. Khi đầu tư vào vốn hữu hình, cần phải căn cứ vào tính khả thi của dự án đầu tư.
Nhưng với vốn con người thì tính khả thi đó phụ thuộc vào năng lực tiếp thu kiến thức kỹ năng từ giáo dục hay phụ thuộc vào năng lực của mỗi người (George J. Becker (1964) tìm ra nhiều cách thức khác nhau để đầu tư cho vốn nhân lực, nhưng chủ yếu vẫn thông qua giáo dục đào tạo. Ông phân biệt giữa đào tạo chung và đào tạo đặc thù. Đào tạo chung có giá trị như nhau cho nhiều doanh nghiệp tức là kỹ năng mà nó đem tới cho lao động có thể làm việc được trong nhiều doanh nghiệp như kế toán, thợ máy… Trong khi đào tạo đặc thù chỉ hữu ích cho một doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sẽ tài trợ cho đào tạo đặc thù nhưng với điều kiện lao động chấp nhận làm việc sau đào tạo với mức lương thấp hơn sản phẩm biên của họ và phải bảo đảm mức lương sẽ cao hơn mức lương trên thị trường. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển càng rõ nét hơn. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công 6 z nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá đầy biến động và cạnh tranh quyết liệt, thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi vậy, hiện nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều doanh nghiệp đã xác định phát triển nguồn vốn nhân lực là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất. Thực tế về tăng trưởng kinh tế đã chứng minh những đầu tư về vốn chỉ góp một phần nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế. Phần lớn giá trị của sản phẩm thặng dư là do chất lượng lực lượng lao động quyết định.
Vai trò kinh tế của việc học hành tốt hơn và phổ cập hơn, sức khoẻ và dinh dưỡng tốt hơn, và tiến bộ công nghệ đều cho thấy tầm quan trọng của năng lực con người như là tác nhân số một tạo ra sự tiến bộ vật chất. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Gary Becker, nhà kinh tế học được giải thưởng Noben về kinh tế năm 1992, đã khẳng định rằng “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục”. Hiệu quả đầu tư phát triển con người luôn cao hơn hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác, tiết kiệm được việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác, và có độ lan toả đồng đều hơn so với các hình thức đầu tư khác. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã phát hành nhiều ấn phẩm, kết quả điều tra nghiên cứu về chủ đề nguồn nhân lực và đào tạo được phát hành trong wesite: http://www.org/hanoi/lang--vi/index.
Các tiêu chí được coi là thước đo về chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp được đưa ra bao gồm: Sự nhận thức, kỹ năng làm việc, ứng dụng công nghệ, thái độ, sự tin tưởng, sự nhậy cảm, đặc tính cá nhân… của nhân lực. Các nghiên cứu và hoạt động của ILO tại Việt Nam tập trung vào ba 7 z lĩnh vực trụ cột là việc làm và phát triển doanh nghiệp bền vững; an sinh xã hội và bảo trợ xã hội; và quản trị thị trường lao động. Cả ba lĩnh vực này đề thể hiện mục tiêu quan trọng là phát triển bền vững và lấy con người làm trung tâm. Chương trình đồng thời cũng nhằm mục đích cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế quốc gia thông qua một lực lượng lao động có chất lượng cao hơn, việc làm tốt hơn và phát triển doanh nghiệp bền vững.
Xây dựng tiêu chuẩn lao động quốc tế và bình đẳng giới là những vấn đề xuyên suốt, được lồng ghép trong tất cả các lĩnh vực trong khuôn khổ hợp tác giữa ILO và các đối tác ba bên. Báo cáo phát triển Việt Nam 2014 của Ngân hàng thế giới (WB) về vấn đề “ Phát triển kỹ năng: xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam” chỉ rõ những vấn đề tồn tại khiến nhân lực Việt Nam sức cạnh tranh yếu hơn so với nhân lực các nước khác. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời nâng cao chất lượng nhân sự trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, Ngành tài chính – Ngân hàng cũng phát triển nhanh chóng với sự xuất hiện của nhiều Ngân hàng trong và ngoài nước, trình độ công nghệ và sản phẩm gần như không có sự khác biệt, các Ngân hàng chỉ có thể nâng cao sức cạnh tranh bằng chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên.
Nhân viên chính là hình ảnh đại diện cho Ngân hàng. Do đó để duy trì và phát triển quan hệ với khách hàng hiện tại cũng như khách hàng trong tương lai thì ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên của mình. 8 z Đã có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu, khảo sát về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng nói riêng. Trong cuốn sách “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” do PGS.
Đỗ Minh Cương - TS. Mạc Văn Tiến đồng chủ biên, NXB Lao động – xã hội, 2004) [14]. Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tìm ra các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, các tác giả đã đưa ra các khái niệm nhân lực ở phạm vi vĩ mô và vi mô, kinh nghiệm đào tạo và phát triển lao động kỹ thuật ở một số nước như Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật, Mỹ. “ Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” cuốn sách của tác giả Phan Văn Kha, NXB Giáo Dục, 2007.
Tác giả đã đưa ra các khái niệm, nội dung cơ bản về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, từ đó, đưa ra các chiến lược nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Cuốn sách “Lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam” của PGS. Lê Quân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 đã tiếp cận nghiên cứu về lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam trên ba lĩnh vực chính là: Quản trị công ty, quản trị nguồn nhân lực và lãnh đạo.