Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế 1. Nhân lực ngành y tế Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra năm 2006 thì nhân lực y tế được định nghĩa: “Nhân lực y tế là những người tham gia vào các hoạt động với mục đích chính tăng cường sức khỏe cộng đồng”. Nhân lực y tế là những người trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế hoặc là những người làm các công việc khác như quản lý, phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Nhân lực y tế là “mắt xích” quan trọng góp phần nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo các mục tiêu “chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Trong công cuộc cải cách hệ thống y tế tại Việt Nam, một trong những việc trọng tâm là tập trung xây dựng nhân lực ngành y tế. Cụ thể, cần xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có trình độ, đặc biệt ở tuyến cơ sở; có cơ chế chính sách đảm bảo chất lượng chuyên môn y tế và chất lượng đào tạo tại các trường đại học y và đảm bảo mức lương xứng đáng cho các cán bộ y tế. Nguồn nhân lực y tế 1.
Khái niệm Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [22]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Như 6 vậy, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ biên (2010) thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [17, tr. Theo Trần Thanh Thủy, nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu là tổng số cán bộ công chức, viên chức và người lao động có trong danh sách của một tổ chức, làm việc bằng thể lực, trí lực của họ và hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của tổ chức [12]. Theo Phạm Tiến Định, nguồn nhân lực trong tổ chức như sau: “Nguồn nhân lực trong tổ chức là tổng thể tất cả lực lượng nhân lực được xác định bởi số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động đủ điều kiện tham gia vào hoạt động của tổ chức đó”.
Vì vậy, nguồn nhân lực được nhìn nhận không chỉ thể hiện ở mặt số lượng đơn thuần mà còn ở sự biến đổi, cải thiện liên tục về cơ cấu và chất lượng [18]. Theo Đoàn Đức Thạch, nguồn nhân lực y tế là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [20]. Nghề Y là một nghề đặc biệt, nhân lực ngành y tế phải được đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và y đức. Vì thế cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.
Nhân lực y tế là nguồn lực quyết định chất lượng dịch vụ y tế. Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực y tế được hiểu: Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân. Đặc điểm nguồn nhân lực y tế Nhân lực ngành y tế (bao gồm bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ…) là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (UHC) và đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) liên quan đến sức khỏe. Đội ngũ nhân lực y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số.
Nguồn nhân lực y tế có đặc điểm đặc thù riêng của ngành như sau: - Thứ nhất, nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao và làm việc nhóm tốt: Do đặc thù công việc là chăm sóc sức khỏe nhân dân, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người nên đòi hỏi nhân viên y tế phải giỏi chuyên môn. Bên cạnh giỏi chuyên môn để làm việc độc lập thì nhân lực y tế cần biết làm việc nhóm tốt để tạo một ê kíp làm việc hiệu quả, thực hiện sứ mạng của “thiên sứ áo trắng” chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; - Thứ hai, thực hiện đúng và chuẩn mực đạo đức ngành y: Họ luôn luôn phải khắc cốt ghi tâm trong lòng lơi thề Hippocrates và 12 điều Y đức đã được coi là “tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế” được ban hành kèm theo Quyết định số 2088-QĐ/BYT ngày 06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế; - Thứ ba, thời gian học tập, đào tạo chuyên môn cho nhân viên y tế dài: So với một số ngành chuyên môn khác thì ngành Y có thời gian học tập lý thuyết trên giảng đường và thực tập tại các bệnh viện dài. Đối với bác sĩ thời gian học tập 6 năm, dược sĩ 5 năm, trong khi các ngành khác dài nhất là 5 năm. Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ và đảm bảo mọi thao tác khám chữa bệnh cho người bệnh, giảm thiểu sai sót, đòi hỏi nhân viên y tế phải tăng cường thời gian thực hành, trực tại các bệnh viện, tự học và từ nghiên cứu rất nhiều; 8 - Thứ tư, nhân viên y tế làm việc trong môi trường vất vả, áp lực, lây nhiễm cao: Nhân viên y tế phải trải qua quá trình học tập dài, vất vả, đầy gian truân hơn so với các chuyên ngành khác nhưng khi đi làm thì phải thường xuyên chịu áp lực công việc, căng thẳng, thường xuyên trực đêm, trực vào ngày nghỉ, lễ tết, môi trường làm việc lây nhiễm cao đặc biệt là làm việc tại khoa truyền nhiễm, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS, điều trị bệnh nhân tâm thần, viêm gan B, viêm gan C, các dịch bệnh… Từ năm 2019 cho đến nay, đại dịch Covid-19 bùng phát, diễn biến phức tạp đòi hỏi nhân viên y tế làm việc liên tục không kể ngày đêm, trong môi trường làm việc khó khăn và lây nhiễm cao khi tham gia chống dịch, tiêm phòng, điều tra truy vết cho người dân.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Theo Trần Thanh Thủy và Phạm Tiến Định: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: Thể lực - Trí lực - Tâm lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức” [12], [18].
Theo Vũ Thị Ngọc Phùng: “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ” [14, tr. Với quan điểm này thì chất lượng của nguồn nhân lực được đánh giá thông qua: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kĩ năng (trí lực) và sức khỏe (thể lực), các tiêu chí này có thể đo lường khá dễ dàng vì được định lượng bằng các cấp bậc đào tạo chuyên môn. Theo quan điểm PGS. Trần Xuân Cầu và PGS.
Mai Quốc Chánh thì chất lượng nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân 9 lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [15, tr 55]. Theo Tạ Ngọc Hải - Viện Khoa học Tổ chức nhà nước: “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ. của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực” [16].
Theo Nguyễn Văn Thạch: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: Thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của ngành” [19]. Từ những luận điểm trên có thể hiểu: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế chính là nâng cao: Thể lực - Trí lực - Tâm lực cho đội ngũ những người tham gia vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân. Cụ thể, nâng cao nguồn nhân lực y tế là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, được biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Ý nghĩa của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế * Đối với nền kinh tế Giữa các nguồn lực như con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là nguồn lực nội sinh, chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và mỗi quốc gia.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo nguồn nhân lực khác.