CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Nhân lực Nói đến nhân lực là nói đến con người, nói đến một thực thể sinh vật người mà trong đó có sự thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội. + Theo đại từ điển kinh tế thị trường thì nhân lực được hiểu là: “Nhìn từ góc độ kinh tế chính trị chủ yếu là chỉ lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động” [30].Mác đã từng chỉ ra: sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống. Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực, trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người do con người chi phối.
Sức lao động chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. + Theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [2]. Từ sự phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm: Nhân lực là cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất được huy động vào quá trình lao động.2 Nguồn nhân lực Từ khái niệm về nhân lực, thì nguồn nhân lực trước hết được hiểu là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội. Khi tham gia vào các quá trình kinh tế xã hội con người đóng góp vai trò chủ động, sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó hướng nó tới mục tiêu nhất định.
Theo Nguyễn Ngọc Quân, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là một trong những yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội [24]. Theo Lê Thị Ngân cho rằng: Nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, mà nội 6 dung của nó bao gồm hai khía cạnh, thứ nhất đó là toàn bộ sức lao động và khả năng hoạt động của lực lượng lao động xã hội, thứ hai là sức lao động, khả năng, trình độ, ý thức của từng cá nhân và mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân đó. Mặt thứ hai của nguồn nhân lực đang ngày càng được quan tâm và rất có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế - xã hội. Chính mặt thứ hai đó nói nên chất lượng của nguồn nhân lực.
Muốn tiếp cận nền kinh tế tri thức phải có nguồn nhân lực chất lượng cao [20]. Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ phong cách làm việc, tất cả những yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong sử dụng. Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo nhưng phân bố không hợp lý giữa các ngành các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp nhu cầu sử dụng, thì lực lượng lao động đông đảo đó không những không trở thành nguồn nhân lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển.3 Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực: “Là phẩm chất thân thể, văn hóa, đạo đức tư tưởng và sự thống nhất với kỹ năng lao động, chức nghiệp của người có năng lực lao động.
Nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên nhân lực: Thể chất và di truyền, trí tuệ, tình hình phát triển giáo dục đào tạo; mức sống và tình trạng dinh dưỡng, hoàn cảnh kinh tế xã hội” [30]. Chất lượng NNL được định nghĩa: “Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL” [30]. Vì vậy, khi xem xét đánh giá, phân tích về nguồn nhân lực không chỉ quan tâm đơn thuần đến số lượng, mà quan trọng hơn là các yếu tố về thể lực; trí tuệ; kỹ năng làm việc; thái độ đạo đức và phong cách làm việc… của đội ngũ lao động như thế nào? Tốt hay xấu, cao hay thấp…, cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành, nghề hợp lý đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng hay không? Tất cả những yếu tố đó đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển 7 kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn nhân lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
Chất lượng đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố như bản chất của xã hội, thể chế chính trị, phong tục tập quán, đặc trưng dân tộc… Như vậy, chất lượng NNL chủ yếu thể hiện ở ba yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất đạo đức. Trí lực của người lao động là một yếu tố quan trọng nhất được thể hiện thông qua một loạt các tiêu thức phản ánh các mặt nhận thức của con người như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT). + Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản về CMKT, nâng cao phẩm chất đạo đức….Vì vậy, đây là tiêu thức quan trọng để đánh giá chất lượng NNL. Về thực chất, trình độ văn hóa đạt được thông qua nhiều hình thức như học tập tại trường lớp, tự học, thông qua thực tế….
nhưng phần lớn tiếp thu qua trường, lớp. Vì vậy, đánh giá trình độ văn hóa thông qua bằng cấp của người lao động đạt được ở các trường phổ thông, cao đẳng, đại học. Song trong thực tế có một số người có đủ năng lực nhưng không có điều kiện học tập qua các trường lớp để thi cử lấy bằng, cũng có một số người tuy đã có bằng cấp nhưng trên thực tế khả năng rất hạn chế. + Trình độ CMKT là những kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp.
Đánh giá trình độ CMKT cũng thông qua bằng cấp chuyên môn của người lao động đã đạt được thông qua học tập và thi cử như công nhân kỹ thuật, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ…. Trình độ CMKT thể hiện khả năng ứng dụng lý thuyết với thực hành để tạo ra sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp, cho xã hội, ngoài ra còn thể hiện tay nghề của người lao động. - Thể lực của người lao động thể hiện qua trình độ sức khỏe, cơ cấu độ tuổi. Đây chỉ là chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh chất lượng NNL về mặt chất của thể lực người lao động.
- Phẩm chất đạo đức của người lao động thể hiện qua các hoạt động như chấp hành ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ thuật lao động, đạo đức nghề nghiệp, mối quan hệ trong công việc…. Đây là tiêu thức không thể thiếu trong lĩnh vực và cuộc sống ngày 8 nay và nó gắn liền với truyền thống văn hóa dân tộc. Cho đến nay, vẫn chưa có một chỉ tiêu tổng hợp chung có thể đánh giá toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, thông thường phải đánh giá bằng hệ thống các chỉ tiêu phản ánh từng khía cạnh đặc trưng của chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm có tính không gian và thời gian, tức là những tiêu chí để làm căn cứ đánh giá chất lượng nguồn nhân lực ở mức độ cao hay thấp, đáp ứng nhu cầu phát triển ít hay nhiều đều phải căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và nhận thức con người, căn cứ vào những mục tiêu cần đạt được và mức độ đáp ứng nhu cầu trong từng trường hợp và bối cảnh cụ thể.
Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng 1.1 Nâng cao thể lực Nói đến thể lực là nói đến trạng thái sức khoẻ của người lao động. Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không chỉ không có bệnh tật hay thương tật. Là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài cơ thể, giữa thể chất và tinh thần con người. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức mạnh cơ bắp trong công việc.
Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực. Trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển, càng đòi hỏi cao ở thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu được sức ép căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống trong thế giới hiện đại, cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới và vật hoá được các tri thức đó thành sản phẩm có ích. Yếu tố thể lực của nguồn nhân lực được hình thành và phát triển bằng con đường di truyền (nòi giống), nuôi dưỡng và luyện tập, rèn luyện thân thể (thể dục, thể thao và các hoạt động lao động sản xuất). Đối với yếu tố này, để xác định đánh giá chất lượng, thường phải bằng con đường khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe… và đánh giá theo những tiêu chuẩn nhất định về trạng thái sức khỏe.
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội không phải đơn thuần là không có bệnh tật. Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khỏe. Bộ Y tế nước ta quy định có 3 loại: 9 A: Thể lực tốt, loại không có bệnh tật gì.
C: Yếu, không có khả năng lao động. Sức khỏe là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công việc và cuộc sống của nguồn nhân lực.