Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương 2: Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong thời gian tới. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 1.
Những vấn đề lý luận về sử dụng nguồn nhân lực chất lƣợng cao 1. Khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao” Để hiểu rõ hơn về thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” có thể khái quát những vấn đề cơ bản về thuật ngữ “nguồn nhân lực”. Thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng và có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau (Xem thêm phụ lục 1). Mặc dù có những sự khác biệt do cách tiếp cận về nguồn nhân lực nhưng nhìn chung đều nhấn mạnh đến những yếu tố cốt lõi để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, đó là thể lực, trí lực và tâm lực.
Có thể đi đến một cách hiểu thống nhất về nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Trong những năm gần đây, các nước trên thế giới hầu hết đều coi nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Trên thực tế, các quốc gia như Singapore, Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc là những nước đạt tốc độ phát triển kinh tế cao liên tục trong nhiều thập kỷ, nên chỉ trong một thời gian ngắn đã biến đất nước họ trở thành các quốc gia có nền kinh tế phát triển.
Yếu tố đóng vai trò quyết định cho sự thành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia đó chính là nguồn nhân lực CLC. Ở các nước phát triển cao người ta đã tính toán được 8 rằng trong giá trị của những sản phẩm cao cấp thì hàm lượng chất xám chiếm 70%, năng lượng 10%, nguyên liệu 10%, thao tác vật chất chỉ chiếm 5,6%. Trí tuệ con người ngày càng được đề cao, vì nó là nguồn lực to lớn và mạnh mẽ nhất cho tiến bộ và phát triển xã hội. Theo Alvin Toffler, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi “tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết”.
Vậy, nguồn nhân lực CLC là gì? Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” nhưng Mác đã nêu ra quan niệm về những người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, đó là những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn. Khi bàn tới thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC”, đại từ điển Kinh tế thị trường của Trung Quốc cho rằng, đó là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có tri thức chuyên môn nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động sáng tạo của bản thân trong hoạt động xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam, thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” thường được tiếp cận theo nhiều cách thức khác nhau. Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi sau của lực lượng này: 9 Một là, về vai trò và tầm quan trọng: Nguồn nhân lực CLC là lực lượng ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với nguồn nhân lực nói chung trong quá trình phát triển KT- XH.
Hai là, về số lượng: Nguồn nhân lực CLC chỉ bao gồm một bộ phận nhân lực trong tổng số nguồn nhân lực quốc gia. Ba là, về chất lượng: Nguồn nhân lực CLC được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản sau: (1) phẩm chất đạo đức, (2) trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, (3) khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc. Tổng hợp từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể khẳng định rằng: Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của nguồn nhân lực, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn; biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào trong quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; có phẩm chất đạo đức tiêu biểu. Như vậy, mặc dù thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” còn đang được giới nghiên cứu bàn luận rất nhiều và chưa có một sự thống nhất nào được thừa nhận, nhưng có ba điểm cốt lõi gắn liền với nguồn nhân lực CLC là: (1) trình độ được đào tạo cao, (2) phẩm chất đạo đức tốt, (3) khả năng đáp ứng được yêu cầu phức tạp của công việc trong những ngành có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Khái niệm “sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao” Để đưa ra định nghĩa về sử dụng nguồn nhân lực CLC cần phân biệt những khái niệm cơ bản sau: quản lý NNL và sử dụng nguồn nhân lực. Quản lý NNL được hiểu là “Tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến 10 lược của tổ chức, đạo đức và xã hội”.15] Cách hiểu này chỉ sử dụng trong quản lý NNL ở cấp tổ chức (cấp vi mô). Ở cấp vĩ mô, NNL của quốc gia được tạo điều kiện bằng các thể chế, chính sách và cơ chế phù hợp; những chính sách quản lý NNL được xây dựng, cụ thể hóa cho thích hợp với từng lĩnh vực NNL nhất định. Trong tiếng Việt, khái niệm sử dụng NNL được dùng khá phổ biến, và về thực chất sử dụng NNL chỉ bao hàm một số thành tố của quá trình quản lý NNL như tuyển chọn, bố trí sử dụng, đánh giá, trả công, trả lương và thăng thưởng.
Trong các tài liệu truyền thống, dùng người đúng ngụ ý là sử dụng được thế mạnh của con người, dùng người vào đúng chỗ, đúng lúc, phát huy được động lực làm việc của con người. Từ những sự phân biệt và cách hiểu nêu trên, có thể vận dụng để xây dựng một định nghĩa về sử dụng NNL CLC. Sử dụng NNL CLC là một quá trình thực hiện các công đoạn từ thu hút, tuyển chọn, bố trí sử dụng, đánh giá, trả công, thăng thưởng và trọng dụng để lực lượng nhân lực này phát huy tốt nhất chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo ở trình độ cao, đồng thời phát huy được những khả năng và phẩm chất đạo đức tiêu biểu trong quá trình đáp ứng những yêu cầu cao của công việc. Đối với NNLCLC, trong đó lực lượng tinh hoa nhất là nhân tài thì việc sử dụng được chú trọng hơn cả ở khâu thu hút và trọng dụng.
Đó là khâu quyết định nhất tới việc gia tăng số lượng và phát huy hiệu quả nhất những tố chất tiêu biểu của NNL CLC trong công việc. Vai trò của việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao Dù nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng của một nhân tài thì đó vẫn chưa phải là yếu tố quyết định đến giá trị của họ đối với quốc gia, dân tộc. Vấn đề sử dụng, hay chính xác hơn là vấn đề thu hút và trọng dụng mới vừa là động cơ, vừa là cái đích, vừa là một khâu trong quá trình đào luyện và 11 hiện thực hóa giá trị của nguồn nhân lực CLC nói chung và nhân tài nói riêng. Thực tiễn đã chứng minh, quá trình phát triển của các quốc gia diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết tùy thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức đã chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trong sản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ được coi là thước đo trình độ CNH và động lực của quá trình phát triển. Mặt khác trong xu thế toàn cầu hóa và mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế hiện nay, các nước có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao, khắc phục sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩu hoặc gia tăng nguồn vốn bằng cách vay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới, nhưng không thể khắc phục hoàn toàn sự yếu kém về nguồn nhân lực qua nhập khẩu lao động hay vay mượn khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này. Nguồn nhân lực CLC được sử dụng hiệu quả sẽ tạo ra những tác dụng sau: Một là, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CLC góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nếu như trong những năm 50-60 của thế kỷ XX sự thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế thì vài thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây chỉ có một phần nhỏ tốc độ tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi khía cạnh đầu vào là vốn, phần quan trọng gắn với chất lượng của lao động. Cho nên việc đầu tư cho con người sẽ là yếu tố góp phần rất quan trọng nâng cao năng suất lao động. Garry Bec Ken (người Mỹ) cho rằng: không có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực. Thực tế lịch sử các nền kinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao 12 trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông.
Hai là, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CLC khơi dậy và nuôi dưỡng tính tích cực của người lao động.