Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Một số khái niệm a. Nguồn nhân lực Khái niệm NNL hiện nay không còn mới mẻ đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về NNL. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về NNL. Có thể kể đến một số quan niệm như sau: Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động” [37]. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [27].TS Phạm Văn Đức: Nguồn nhân lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động.
Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai, trình độ văn hóa, thái độ với công việc [7]. Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Đó là toàn bộ con người và các hành động của con người trong tổ 4 chức đó tạo thành các hoạt động – phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức [24,tr. Bộ Lao động thương binh xã hội cho rằng: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội” [1,tr. Đỗ Minh Cương và TS. Mạc Văn Tiến, NNL được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở một mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể) trong một thời kỳ nhất định (có thể cho 1 năm, 5 năm, 10 năm.) phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển; Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là các tiềm năng của con người được lượng hóa theo một chỉ tiêu nhất định do Luật định hoặc chỉ tiêu thống kê căn cứ vào độ tuổi và khả năng lao động, tức là có thể đo, đếm được mà quan trọng nhất trong đó là dân số hoạt động kinh tế thường xuyên (còn gọi là lực lượng lao động).
Đó là những người trong độ tuổi lao động theo luật đinh, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp [4, tr. Kế thừa quan điểm của các tác giả nghiên cứu về NNL, học viên cho rằng: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là toàn bộ dân cư trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, bao gồm tổng thể năng lực về thể lực, trí lực và tâm lực ở dạng tiềm năng và thực tế có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển công việc của doanh nghiệp nhất định”. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển con người. Đó là tổng hợp các yếu tố về trạng thái thể lực, trí lực, 5 trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống, tinh thần, cơ cấu lao động, thành phần xã hội, khả năng hoàn thành nhiệm vụ nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp và chất lượng nhân lực liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của doanh nghiệp, cơ chế chính sách của doanh nghiệp và nhà nước.
Có rất nhiều quan niệm về chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, tuy nhiên với nhân lực ở các doanh nghiệp ngành nghề hoạt động khác nhau thì tiêu chí về chất lượng sẽ hoàn toàn khác biệt. Theo Hà Văn Hội (2007) : “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như: trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của người lao động. Trong các yếu tố trên thì yếu tố trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng nhất để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực”[16, tr22]. Theo Trần Xuân Cầu (2015): “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của Nguồn nhân lực” [3, tr9].
Theo quan điểm của PGS. TS Lê Thanh Hà thì chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động” [8, tr37]. Từ những quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực trên tác giả cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất) của lực lượng lao động”. Trong đó: - Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của người lao động, thể hiện ở sự phát triển sinh học, đủ sức khỏe để tham gia lao động, học tập và làm việc lâu dài.
- Trí lực: Là năng lực trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ. Nó có tính chất quyết định lớn đến khả năng sáng tạo của người lao động. 6 - Tâm lực (phẩm chất): Là sự phản ánh thể hiện tính cách, tâm lý, sự giác ngộ, ý thức, các giá trị văn hóa được kết tinh trong người lao động tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lượng lao động và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động. Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp, vai trò của nguồn nhân lực được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: - Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức.
Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. - Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó.
Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. - Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Nội dung chất lượng nguồn nhân lực 1.
Thể lực Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người làm việc và phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có 7 thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh. Sức khỏe con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu có thể đo lường như: chiều cao, cân nặng, ngoại hình, sức bền, độ dẻo da, khả năng mang vác vật nặng, tình trạng bệnh tật. Vì vậy chăm sóc sức khỏe là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
Một con người khỏe mạnh là người không có bệnh tật về thể chất và tinh thần minh mẫn. Một tinh thần “bệnh tật” là tinh thần luôn có những suy nghĩ hằn học, tức giận, lo âu, buồn phiền, căng thẳng dồn nén. khiến tư duy con người bị ảnh hưởng, có thể không kiểm soát được những hành vi của bản thân. Thể lực NNL được thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản sau đây: - Độ tuổi người lao động: Độ tuổi người lao động phản ánh phần nào tình trạng sức khỏe của NNL.
Nếu nguồn nhân lực có tuổi đời trẻ thì sẽ có nhiều sức khỏe và tinh thần để cống hiến cho công việc. Nếu NNL có tuổi đời cao thì sức khỏe NNL có thể bị giảm sút dẫn đến khả năng làm việc và chịu áp lực trong công việc kém. Tuy nhiên đối với những người lao động có độ tuổi trẻ thì có nhiều sức khỏe nhưng kinh nghiệm không có nhiều, còn đối với nhưng người lao động có độ tuổi cao thì họ sẽ có nhiều kinh nghiệm nhưng nếu yêu cầu cường độ làm việc lâu thì họ sẽ không đáp ứng được. - Sức khỏe người lao động: sức khỏe thể hiện sự dẻo dai về thể lực của NNL trong quá trình làm việc.
Thể lực NNL không chỉ được thể hiện qua độ tuổi người lao động mà còn mà còn liên quan đến cả sức khỏe của bản thân người đó. Không phải người lao động nào ở độ tuổi trẻ đều khỏe mạnh. Sức khỏe của con người do nhiều yếu tố mang lại như: di truyền, môi trường sống, tinh thần, việc làm và thu nhập, dinh dưỡng và lối sống.