CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Ở nước ta các khái niệm về nguồn nhân lực đã được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế.
Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu, cụ thể: Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân ( năm 2004) do tác giả Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên thì “Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm cả thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, còn trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, am hiểu, sự tiếp thu kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử, giá trị đạo đức, tác phong làm việc, lòng tin của mỗi con người” [13,tr. Theo cuốn Quản lý nhân lực của Doanh nghiệp (năm 2010) do tác giả Đỗ Văn Phức chủ biên thì “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức. Nhân lực của tổ chức là sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ lao động” [12, tr.
Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường ĐH Kinh tế (2008) do tác giả Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh chủ biên thì: “Nguồn nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [4, tr. 5 Nguồn nhân lực có nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Nghĩa rộng: là dân số sống trong một quốc gia, khu vực, địa phương, được đăng ký thường trú trên một địa phương nhất định. Nghĩa hẹp: là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động do pháp luật quy định độ tuổi tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất.
Nhìn nhận từ góc độ cá nhân, con người trong tổ chức: Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người trong tổ chức, bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực. Nhìn nhận từ khía cạnh xã hội: Nguồn nhân lực trong một tổ chức được hiểu là toàn bộ nhân viên làm việc trong tổ chức đó, được quản lý, sử dụng và trả lương theo quy định. Từ các quan điểm và nhận định trên ta có thể rút ra một nhận định chung về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để hình thành, duy trì và đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức, doanh nghiệp, xã hội, nguồn nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, là tất cả các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức, doanh nghiệp đó. Vai trò của nguồn nhân lực Quá trình hình thành và phát triển của xã hội đã chứng minh rằng, trong mọi giai đoạn, con người luôn là yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đặc biệt sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế xã hội thì nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng cho sự phát triển bền vững của một tổ chức, doanh nghiệp và được các tổ chức, doanh nghiệp nhận thức một cách đúng đắn và sử dụng hiệu quả hơn. Có thể nói nguồn nhân lực là “tài sản” quý giá nhất của một tổ chức, doanh nghiệp. Vai trò của nguồn nhân lực được thể hiện: Một là, nguồn nhân lực là động lực của sự phát triển: Các nguồn lực khác với vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lý…là những khách thể, 6 chịu sự khai thác cải tạo của con người. Các nguồn lực này chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn sử dụng và phát huy tác dụng của nó phải có sự kết hợp với nguồn lực con người, thông qua các hoạt động có ý thức của con người.
Con người với tất cả những năng lực, phẩm chất tích cực của mình bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng tạo… tác động vào các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại để tạo ra hoạt động lao động phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Chính con người là nhân tố làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn của công nghệ 4.0, khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì thì con người là nhân tố tạo ra các tư liệu lao động hiện đại đưa chúng vào trong hoạt động sản xuất. Nếu không có cong người thì những nguồn lực khác chỉ là những vật chất vô tri, vô giác hoặc không thể phát huy được tiềm năng của mình.
Như vậy, để xã hội phát triển thì động lực lớn nhất, quan trọng đó chính là khả năng của con người. Hai là, nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển: Con người luôn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân, chính vì vậy bất kể một hoạt động nào của con người đều có một mục đích, mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Mọi hoạt động sản xuất đang diễn ra cũng nhằm một mục đích cuối cùng là thoả mãn tối đa nhu cầu của con người, làm cho cuộc sống của con người không những đầy đủ về vật chất mà còn cả tinh thần. Điều đó có nghĩa nhu cầu tiêu dùng của cải vật chất, tinh thần của con người có tác động trực tiếp và quyết định tới việc cung ứng hàng hoá trên thị trường.
Theo thời gian và sự phát triển tự nhiên, nhu cầu của con người trở nên đa dạng và phong phú, do đó việc sản xuất cung ứng hàng hóa cũng nhiều và đa dạng hơn. Qua đó có thể thấy, phát triển kinh tế xã hội suy cho cùng là vì nhu cầu của con người - của nhân lực. Ba là, nguồn nhân lực là nguồn lực quyết định việc phát huy các nguồn lực khác: Nguồn lực là tổng thể những tiềm năng, năng lực của mỗi cá nhân và cộng đồng đã và đang và sẽ tạo ra sức mạnh để thúc đẩy xã hội phát triển. Nguồn lực con người bao gồm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Theo Chủ nghĩa Mác – Lê Nin đưa ra những luận điểm khẳng định vai trò to lớn của con người đối với sự 7 phát triển của xã hội như “Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất”. Vai trò của con người lại càng được thể hiện rõ nét khi đặt chúng trong mối quan hệ với các nguồn lực khác. Cụ thể như: vốn, tài nguyên…rất cần cho sự phát triển, tuy nhiên các nguồn lực này không thể tự phát huy tác dụng và nó sẽ cạn kiệt trong quá trình sử dụng. Trong khi đó nguồn lực từ con người là chủ thể khơi nguồn tác dụng của các nguồn lực tự nhiên và bản thân nó có thể tái sinh, phục hồi phát triển trong khai thác và sử dụng.
Bốn là, nguồn nhân lực quyết định đến giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất – kinh doanh: Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình cộng với các yếu tố, nguồn lực khác tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần. Mặt khác, chính con người lại là người sử dụng và tiêu dùng của cải, vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển thông qua quá trình phân phối và phân phối lại. Như vậy có thể thấy nguồn nhân lực, hay chính con người là yếu tố quyết định đến giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất và kinh doanh.
Năm là, nguồn nhân lực là chủ thể và khách thể trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội: Như chúng ta đã biết, lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất là hoạt động có ý thức của con người. Con người tác động vào tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phục vụ cho mục đích của con người. Lao động sản xuất là sự kết hợp giữa ba yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động (nhân lực). Vì sức lao động gắn liền với con người mà suy cho cùng con người luôn sáng tạo và sử dụng đối tượng lao động, tư liệu lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho lợi ích của con người.
Bên cạnh đó chất lượng nhân lực càng được nâng cao về mặt thể lực, trí lực thì càng sáng tạo ra những tư liệu sản xuất hiện đại, sử dụng các tư liệu sản xuất càng hiệu quả, tạo ra năng suất lao động càng cao, chất lượng của cải ngày càng dồi dào, phong phú… Như vậy có thể nói nhân lực là chủ thể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về nhân lực và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là yêu cầu hết sức quan trọng đối với tất cả mọi tổ chức, doanh nghiệp. Bởi lẽ sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả là một chiến lược lâu dài đối với các tổ chức, doanh nghiệp điều đó không chỉ làm cho bộ máy tổ chức hoạt động tốt mà còn là một biện pháp giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Việc sử dụng nhân lực hợp lý sẽ đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yêu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc” (GS.