Chương 1: Cơ sở lý luận và t ự tiến nâng cao ất lƣợn n uồn nhân lự tron o n n iệp Chương 2: T ự trạn ất lƣợn n uồn n ân lự tại Côn ty Cổ p ần Tƣ vấn và Quản lý Dự án Đầu tƣ Xây ựn Hà Nội mới i i đoạn 2017 – 2019 Chương 3: Một số iải p áp nân o ất lƣợn n uồn n ân lự tại Cổ p ần Tƣ vấn và Quản lý Dự án Đầu tƣ Xây ựn Hà Nội mới đến năm 2025. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. K ái quát về n uồn n ân lự và ất lƣợn n uồn n ân lự 1. Khái quát về nguồn nhân lực 1.
Khái niệm nguồn nhân lực Có rất nhiều khác niệm với các các tiếp cận nghiên cứu khác nhau nhưng tựu chung “Nguồn nhân lực” là thuật ngữ thường dùng để chỉ tất cả những người làm việc trong một tổ chức hay tất cả lao động của xã hội. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Quan điểm này có thể được hiểu theo hai nghĩa: - (1) Nghĩa rộng:nguồn nhân lực là nguồn cung cấp toàn bộ sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho phát triển. - (2) Nghĩa hẹp, nguồn nhân lực gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động - sản xuất, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Quan điểm về nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp thường được sử dụng trong các lý thuyết lao động, xã hội và thống kê điều tra việc làm. Trong Các chỉ số phát triển thế giới của Liên Hợp Quốc (World Development Indicators) vào năm 2000 cho rằng: “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Quan điểm này đề cao chất lượng nguồn nhân lực và tiềm năng con người đối với sự phát triển. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: "Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kĩ năng nghề nghiệp.
của mỗi cá nhân". Quan điểm của Ngân hàng thế giới định nghĩa nguồn nhân lực là một loại nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn vật chất khác như: nguồn vốn tiền tệ, nguồn vốn công nghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên. với chức năng cơ bản của nguồn vốn nhân lực là để khai thác, duy trì và sử dụng các nguồn vốn vật chất khác. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh trong cuốn Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2008) “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia 6 vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”.Nguồn nhân lực theo quan điểm này được biểu hiện cụ thể: - Về số lượng: Thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực. - Về chất lượng: Thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực và tâm lực. - Về cơ cấu: Thông qua các tỷ lệ của từng bộ phận nguồn nhân lực được phân chia theo các tiêu thức chất lượng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực như: cơ cấu nguồn nhân lực theo độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn… Trên quan điểm vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế: Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân (2013) cho rằng:“Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Trên quan điểm vi mô dưới góc độ từng doanh nghiệp thì: “Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó.
Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Có thể thấy rằng, các quan điểm nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Các khái niệm đều thể hiện chung một nội dung cơ bản: “Nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các mặt thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, được vận dụng vào các hoạt động kinh tế xã hội để tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho xã hội”. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Khái niệm: Trong phạm vi tổ chức, doanh nghiệp, khái niệm nguồn nhân lực được biểu hiện cụ thể là: “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau với những đặc điểm cá nhân, năng lực, tiềm năng phát triển, kinh nghiệm khác nhau, được sắp xếp và đảm bảo ở những vị trí khác nhau theo một cơ cấu tổ chức nhất định, liên kết với nhau theo những mục tiêu chung, chiến lược chung và với các nguồn lực khác của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó 7 cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó. Nhân lực là yếu tố con người, mà chính con người là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, vận hành doanh nghiệp và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp”.
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, đóng vai trò tiến quyết, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần dành sự quan tâm đặc biệt nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất lượng và số lượng, đáp ứng sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Phân loại: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp thường được phân loại tùy theo mục đích nghiên cứu: Căn cứ vào chức năng công việc, nguồn nhân lực doanh nghiệp được phân công theo các nhóm chức năng cụ thể như: - Phân theo chức năng sản xuất, chế biến gồm: nhân sự lao động trực tiếp (tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo sản phẩm) và nhân sự lao động gián tiếp (phục vụ cho những lao động trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất) - Phân theo chức năng lưu thông, tiếp thị gồm: nhân sự bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nhân sự nghiên cứu thị trường. - Phân theo chức năng quản lý, lãnh đạo, quản trị trong doanh nghiệp gồm: nhà quản trị cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở.
Việc phân loại nguồn nhân lực theo chức năng có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nhân sự, quản trị doanh nghiệp. Căn cứ vào nghề nghiệp, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia thành: - Nhân sự lao động sản xuất kinh doanh chính - Nhân sự lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ - Và nhân sự lao động khác Việc phân loại theo tiêu chí này có ý nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch nhân sự trong từng bộ phận của doanh nghiệp như: bộ phận sản xuất kinh doanh trực tiếp; bộ phận quản lý. Mặt khác tạo điều kiện trong việc lập dự toán và thực hiện các dự toán chi phí kinh doanh, quỹ lương. Bên cạnh đó, với những yêu cầu đặc biệt của quản lý, còn có những cách phân loại nhân sự đặc biệt thì như: phân loại nhân sự theo năng lực, phân loại nhân sự theo trình độ chuyên môn.
Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực 8 Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Theo tác giả Nguyễn Tiệp trong giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động – Xã hội (2011) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, xây dựng làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực, thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” Theo Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nước thì: “chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ v.v… của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.” Còn theo Mai Quốc Chánh trong cuốn giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2000) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có.