CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người, bao gồm thể lực, trí lực, tâm lực. Vậy, nguồn nhân lực là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt được các mục tiêu, mục đích của cơ quan, tổ chức đó đặt ra.
Theo quan điểm này có thể hiểu rằng NNL cán bộ, CCVC cấp Tỉnh được cơ cấu tập hợp và bố trí, sử dụng tương ứng với các vị trí việc làm trong các cơ quan cấp Tỉnh. Trong hệ thống chính trị ở nước ta, các cơ quan được sắp xếp theo ngành, lãnh thổ từng cấp nên NNL cán bộ, CCVC cũng được cơ cấu theo ngành, lãnh thổ các cấp. Cơ quan quản lý theo ngành do các Bộ và cơ quan ngang bộ thực hiện. Quản lý theo lãnh thổ được cơ cấu theo cấp hành chính do chính quyền địa phương thực hiện, cán bộ, CCVC thuộc chính quyền địa phương được bố trí trong các cơ quan hành chính ở 03 cấp tỉnh, huyện, cấp xã (theo tác giả Vũ Đình Dũng – năm 2019).
Theo Luật Cán bộ, công chức (2008): - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, 1 tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng. Theo Luật Viên chức (2010): Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Chất lượng nguồn nhân lực - Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của NNL.
Để đánh giá chất lượng NNL, nét đặc trưng là trí lực, thể lực, đạo đức cá nhân có thể có những nét khác chưa được nhận xét đến hoặc cần phải có những nét đặc trưng trong từng lĩnh vực có đặc thù riêng biệt. Đây là cách tiếp cận khoa học, thể hiện sự linh hoạt trong việc đánh giá chất lượng NNL bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng trong hoạt động thực tiễn (theo tác giả Võ Thành Khối - năm 2010). - Chất lượng của cá nhân được hiểu là tổng thể gồm các giá trị phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức,. Một CCVC không tồn tại riêng biệt, cần phải được đặt trong một thể thống nhất của NNL.
Vậy, khái niệm chất lượng đối với CCVC được hiểu là mối quan hệ tổng hòa giữa phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng thích ứng thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, quan niệm về chất lượng NNL CCVC phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng CCVC với chất lượng của cả NNL CCVC (theo tác giả Vũ Đình Dũng – năm 2019). Qua các quan điểm trên, cho thấy NNL cán bộ, CCVC là tập hợp của nhiều cán bộ, CCVC, ngoài ra chất lượng NNL cán bộ, CCVC còn thể hiện qua trí lực (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp,.) tâm lực (phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức,.) và thể lực (độ tuổi, sức khỏe), có thể xác lập tiêu chí để đánh giá chất lượng NNL theo nhóm, như sau: 2 Sức khỏe thể chất Thể lực Sức khỏe tinh thần Sức khỏe xã hội Căn bản, nền tảng Kiến thức Chuyên môn, lý luận chính trị Quản lý NN, Tin học, Ngoại ngữ Lập kế hoạch Viết báo cáo Chất Giao tiếp Trí lực Kỹ năng lượng NNL Quản lý VP Xử lý thông tin Quản lý thời gian Tổ chức điều hành Thâm niên công tác Kinh nghiệm Hoạt động thực tiễn Thành thạo công việc Phẩm chất đạo đức Tâm lực Phẩm chất chính trị Thái độ làm việc 3 Hình 1: Tiêu chí đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực của Sở Nội vụ. Nguồn: Tổng hợp từ Hoàng Bông (2019) 1.
Vai trò nguồn nhân lực Quan điểm của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo, phương hướng nhiệm vụ chủ yếu về xây dựng con người Việt Nam trong điều kiện mới, nhất là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng như bối cảnh kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển và kiên định phát triển con người Việt Nam toàn diện. Vì vậy, nâng cao chất lượng NNL là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân mỗi con người góp phần phát triển nhanh, bền vững mỗi cơ quan, tổ chức thông qua nâng cao chất lượng NNL thông qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, vật chất, tinh thần, tác phong làm việc,. làm gia tăng giá trị của con người, cả về vật chất lẫn tinh thần, trí tuệ, tâm hồn, kỹ năng thực thi công việc, cải thiện môi trường làm việc và giao tiếp ứng xử của CCVC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao. Ý NGHĨA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC - Ý nghĩa đối với CCVC (người lao động): Là sự gia tăng giá trị con người về giá trị vật chất, tinh thần, trí tuệ, tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có năng lực, phẩm chất mới cao quý hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển KT-XH.
Nhờ việc 4 nâng cao chất lượng NNL, người lao động có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ở mức cao hơn, giúp họ mở rộng cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập,. - Ý nghĩa đối với cơ quan, tổ chức: Là việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng NNL tăng lên so với chất lượng NNL hiện tại. Đó là sự tăng cường sức mạnh, kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần, năng lực thực tiễn của lực lượng lao động lên trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của tổ chức. Với xu hướng áp dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, các tổ chức sẽ đạt được giá trị gia tăng cao hơn khi có một lực lượng lao động chất lượng cao, sẽ gia tăng uy tín, lợi thế, tạo nền tảng vững chắc trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ.
- Ý nghĩa đối với phát triển KT-XH: Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của các nguồn khác. Chất lượng NNL đóng vai trò là nền tảng để áp dụng và phát huy hiệu quả của các phương thức sản xuất hiện đại, trong đó áp dụng công nghệ cao vào công việc là xu thế tất yếu. Nâng cao chất lượng NNL sẽ quyết định trình độ làm cơ sở đưa ra các chính sách phát triển kinh tế, điều kiện quan trọng đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo ra cơ hội tăng thu nhập cho người lao động và tăng phúc lợi xã hội (theo tác giả Nguyễn Huỳnh Ngọc Quang – năm 2019). CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 3.
Tiêu chí về thể lực Là trạng thái sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động; điều đó được thể hiện qua tiêu chí về sức khỏe và tiêu chí về độ tuổi của NNL. - Về sức khỏe: CCVC phải có sức khỏe đáp ứng được yêu cầu của công việc. Sức khỏe của CCVC thể hiện trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần 5 trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn biết trạng thái sức khỏe của CCVC căn cứ vào kết quả đánh giá của các cơ quan y tế có thẩm quyền, có thể phân nhiều loại: loại I (rất khỏe), loại II (khỏe mạnh), loại III (trung bình), loại IV (yếu),.
Tuy nhiên, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức có những yêu cầu khác nhau, nên phải căn cứ đặc thù ngành nghề để xây dựng các tiêu chí riêng về sức khỏe, CCVC cần phải đảm bảo yêu cầu về sức khỏe không chỉ là một quy định bắt buộc trong tuyển dụng, sử dụng, đòi hỏi cần phải duy trì trong suốt quá trình làm việc, thường xuyên được đánh giá phản ánh qua các đợt khám sức khỏe định kỳ (theo Bộ Y tế - năm 2005). - Về độ tuổi: Mỗi quốc gia sẽ có quy định khác nhau về độ tuổi lao động. Ở Việt Nam, hiện nay quy định độ tuổi lao động từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến tròn 55 tuổi đối với nữ (Luật Lao động). Những người trong độ tuổi này có thể tham gia vào các hoạt động KT-XH.
Khi tiến hành xây dựng quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo còn phải căn cứ vào các tiêu chuẩn cụ thể về độ tuổi quy hoạch, bổ nhiệm lần đầu, bổ nhiệm lại theo từng thời kỳ nhằm đảm bảo tính kế thừa cũng như phát huy cao nhất khả năng của CCVC trong từng độ tuổi nhất định do đặc thù cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định. Tiêu chí về trí lực - Trí lực biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng công tác. Về trình độ được nhận định ở cấp độ khác nhau chuyên môn, nghiệp vụ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ,.