Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh quảng bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH

1.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.4. Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch

1.5. Khái niệm nguồn nhân lực

1.6. Quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch

1.7. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch

1.8. Lý luận thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình

1.9. Thực tiễn về tác động của tình hình trong nước và thế giới hiện nay đến chất lượng nguồn nhân lực

1.10. Lý luận thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình hiện nay

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Khái quát về tiềm năng du lịch và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Quảng Bình

2.2. Khái quát về lịch sử, địa lý tỉnh Quảng Bình

2.3. Khái quát về tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Bình

2.4. Khái quát về việc khai thác du lịch của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Quảng Bình

2.5. Thực trạng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Quảng Bình

2.6. Thực trạng về công tác quản lý đào tạo nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Quảng Bình

2.7. Thực trạng về chương trình đào tạo nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Quảng Bình

2.8. Thực trạng việc sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình

2.9. Kết quả nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh Quảng Bình

2.9.1. Cơ cấu nhóm tuổi

2.9.2. Trình độ ngoại ngữ, tin học

2.9.3. Kỹ năng công việc

2.9.4. Kinh nghiệm lao động

2.9.5. Nhu cầu học tập, bồi dưỡng

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG BÌNH

3.1. Định hướng, quan điểm, mục tiêu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2025

3.2. Định hướng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2025

3.3. Quan điểm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2025

3.4. Mục tiêu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2025

3.5. Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

3.5.1. Nhóm giải pháp về tầm nhìn đào tạo và tuyển dụng

3.5.2. Nhóm giải pháp về đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực trong ngành Du lịch tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.5.3. Nhóm giải pháp về thu hút đầu tư cho đào tạo, phát triển nhân lực ngành du lịch của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng Bình

3.5.4. Nhóm giải pháp về quản lý và sử dụng nhân lực du lịch của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng Bình

3.5.5. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nghiệp vụ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình. Tỉnh Quảng Bình, với tiềm năng du lịch phong phú, cần có một lực lượng lao động được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) cạnh tranh tốt hơn mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.

1.1. Định nghĩa và vai trò của nguồn nhân lực trong ngành du lịch

Nguồn nhân lực trong ngành du lịch bao gồm tất cả các cá nhân tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ du lịch. Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng và uy tín của doanh nghiệp. Đào tạo nhân viên du lịch không chỉ là việc trang bị kiến thức mà còn là phát triển kỹ năng mềm và thái độ phục vụ.

1.2. Tình hình hiện tại của nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Bình

Hiện nay, nguồn nhân lực trong ngành du lịch tại Quảng Bình còn nhiều hạn chế về trình độ và kỹ năng. Nhiều nhân viên chưa được đào tạo chuyên sâu, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Điều này cần được khắc phục để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

II. Những thách thức trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Bình

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình gặp phải nhiều thách thức. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu nguồn lực để đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân viên.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực tài chính cho đào tạo

Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không có đủ ngân sách để đầu tư vào các chương trình đào tạo chất lượng. Điều này dẫn đến việc nhân viên không được cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.

2.2. Khó khăn trong việc thu hút nhân tài

Doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình gặp khó khăn trong việc thu hút nhân tài do mức lương và chế độ đãi ngộ chưa cạnh tranh. Điều này khiến cho nhiều nhân viên có năng lực lựa chọn làm việc tại các thành phố lớn hơn.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, các doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân viên là rất cần thiết.

3.1. Đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên

Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Đào tạo không chỉ tập trung vào kiến thức chuyên môn mà còn cần phát triển kỹ năng mềm như giao tiếp và làm việc nhóm.

3.2. Tạo môi trường làm việc tích cực

Môi trường làm việc tích cực sẽ giúp nhân viên cảm thấy thoải mái và gắn bó với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp thân thiện, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực

Nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình. Các doanh nghiệp đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện dịch vụ và thu hút khách hàng.

4.1. Kết quả từ các chương trình đào tạo

Các chương trình đào tạo đã giúp nhân viên nâng cao kỹ năng và kiến thức, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ. Khách hàng ngày càng hài lòng hơn với dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình.

4.2. Tác động đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giúp doanh nghiệp tăng trưởng mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành du lịch tại Quảng Bình. Doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô và nâng cao uy tín trên thị trường.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Bình

Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình là một nhiệm vụ cấp thiết. Các doanh nghiệp cần có chiến lược rõ ràng để phát triển nguồn nhân lực, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

5.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong tương lai

Các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dài hạn cho việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đầu tư vào công nghệ và phương pháp đào tạo hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả đào tạo.

5.2. Khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo

Hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo sẽ giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường. Điều này sẽ tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành du lịch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực du lịch ở tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tên tiếng Anh viết tắt là SMEs (Small and medium enterprise) những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó. Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở cộng đồng các nước Châu Âu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ.

Các nước thuộc cộng đồng Châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng về SMEs của riêng họ, ví dụ ở Đức được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người. Tuy nhiên, đến nay Liên minh Châu Âu đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Theo đó, những doanh nghiệp có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, còn các doanh nghiệp có trên 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa.

Như vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có các định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa là khác nhau, chính sự khác nhau đã khiến cho việc nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trở nên khó khăn hơn. Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn cụ thể khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được đưa ra để phù hợp với mục đích của việc xác định và mức độ phát triển doanh nghiệp. Đến nay, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa về cơ bản được hiểu theo định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế 5 toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)[15, Tr47] Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.

Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này).

Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước; tính chất ngành nghề; vùng lãnh thổ; tính lịch sử; mục đích phân loại. Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc một ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau: F(Sba) = Ib* Ia*Sa/ Id Trong đó: F(Sba): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể.

Ib, Ia, Id: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp; Sa: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước. Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ 6 ban hành ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp Việt Nam được phân thành 4 nhóm tùy thuộc vào quy mô lao động, vốn và khu vực kinh tế mà họ hoạt động, cụ thể bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Doanh Doanh nghiệp nghiệp Doanh nghiệp vừa Doanh nhỏ siêu nhỏ nghiệp lớn Khu vực Lao động Lao động Lao động Lao động Vốn Vốn (người) (người) Vốn (tỷ) (người) (người) (tỷ) (tỷ) I. Khu vực Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên nông, lâm nghiệp <=10 <=20 Trên 300 đến 200 đến 100 đến 300 100 và thủy sản II. Khu vực công Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên nghiệp và xây <=10 <=20 Trên 300 đến 200 đến 100 đến 300 100 dựng III.

Khu vực Trên 10 Trên 10 Trên 50 Trên thương mại, dịch <=10 <=10 Trên 100 đến 50 đến 50 đến 100 50 vụ Nguồn: Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP 1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội (KT-XH) của Việt Nam được thể hiện trên các mặt sau: 1. Vai trò về mặt kinh tế Tăng trưởng nền kinh tế: Theo thống kê, trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với số lượng vào khoảng 550.000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần 2. Theo tiêu chí mới thì doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 98% tổng số các doanh nghiệp thuộc các hình thức: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Tốc độ tăng trưởng GDP của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là tăng ổn định và đều đặn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh và quốc doanh còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, cơ sở hạ tầng (CSHT) như trường học, thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa, nhà tình thương và các công trình phúc lợi khác ở tất cả các địa phương trong cả nước. Gia tăng giá trị xuất khẩu: Với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kết hợp với thị trường mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa.

Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã mạnh dạn chuyển sang sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, số lượng hàng hóa tham gia xuất khẩu ngày càng tăng, nhiều sản phẩm được các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc xuất ủy thác qua các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài. Thu hút vốn: Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho lao động cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Trong bối cảnh lạm phát, việc huy động vốn của ngân hàng chưa hấp dẫn, các cá nhân có tiền nhàn rỗi có nhu cầu thành lập các cơ sở sản xuất nhỏ là hợp lý, đây là yếu tố tích cực của việc huy động vốn trong dân cư, do vậy hàng năm đã có hàng trăm doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập. Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ: Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương. Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tận dụng triệt để các nguồn lực xã hội, có nhiều thuận lợi trong việc khai thác các tiềm năng rất phong phú trong dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo, vốn liếng, bí quyết nghề nghiệp, nhất là của các nghệ nhân, các quan hệ huyết thống, ngành nghề truyền thống. để phát triển sản xuất kinh doanh.

8 Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực, một bộ phận lớn lao động trong nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm đã được thu hút vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa và đã dần thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp và một số ngành dịch vụ liên quan. Ngoài lao động ra, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa khi thành lập cần vốn ít, thu hồi vốn nhanh, có khả năng huy động vốn nhanh, khai thác, sử dụng các tiềm năng về nguồn lao động và nguyên vật liệu tại các địa phương cũng như việc thu hút vốn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ở các nước có nền kinh tế phát triển cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công nghiệp, gây mất cân đối về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia.

Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước hết, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng nhanh các cơ sở ngoài quốc doanh. Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ