phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được trình bày trong ba chương. Chƣơng 1 Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá và quản lí công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Chƣơng 2: Thực trang công tác kiểm tra đánh giá và quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học phổ thông - Lương sơn Chƣơng 3 Biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học phổ thông Lương sơn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ 1. Lịch sử nghiên cứu Sự cải tiến các chương trình kiểm tra đánh giá xuất hiện từ những năm thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước.
Ở giai đoạn này, kiểm tra đánh giáđã có các tiêu chí, công cụ, chương trình đánh giá có sự hỗ trợ của kỹ thuật. Kiểm tra đánh giáđược coi chính là sự học tập và được xác định bởi 8 khả năng: khả năng thu thập thông tin, phân tích, giải quyết vấn đề, nhận biết về giá trị, tác động đến xã hội, đáp ứng môi trường toàn cầu, làm việc hiệu quả vá trách nhiệm công dân, đáp ứng về phương tiện thẩm mĩ. Merchers và Lehnmann (1975) cho rằng kiểm tra đánh giá là giải thích và miêu tả thành tích học tập của sinh viên. Từ năm 1985 đến nay kiểm tra đánh giáđược coi là chương trình rèn luyện kỹ năng hoạt động.
Một số trường đại học của Mỹ đã nghiên cứu và đưa ra 8 kỹ năng trong một chương trình kiểm tra đánh giáđó là: kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề, kỹ năng viết, kỹ năng nói và giáo tiếp, kỹ năng phân tích số lượng, kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng sử dụng thư viện – thí nghiệm và kỹ thuật thông tin và kỹ năng nhận thức và phán định giá trị. Chương trình kiểm tra đánh giánày tổ chức việc học tập và hành động theo khả năng cá biệt và sinh viên luôn ý thức về sự tự đánh giá mình. Nhiều trường đã thành lập cơ quan đánh giá sinh viên nhằm giúp các bộ môn khoa học của trường thiết kế, phân tích những số liệu đánh giá kết quả. Nhìn chung kiểm tra đánh giáđều có mục đích chung cho người dạy và người học là: - Vì sự tiến bộ và phát triển của sinh viên - Vì sự công bằng đòi hỏi thiết yếu khi xem xét hệ thống các giá trị xã hội - Quy luật phân bố tự nhiên được thừa nhận trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đánh giá sinh viên phải căn cứ vào nguồn trợ giúp họ về tài liệu, chương trình giảng viên và hoàn cảnh xã hội của sinh viên. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về kiểm tra đánh giátrên thế giới: ● Aiken, R.L, Psychological Testing and Assessment , Allyn and Bacon. Stone, Best Test design, SMESA PRESSA, Chicago, 1979. Micheal, Handbook in Rearch and Valuation, 3 rd Ed.
● Patrick Griffin, Measuring Achievement Using Sub – test from a Common Item Pool. Assessment Rerearch Centre, The University of Melbourne, 1997. ● Tom Kubiszun and Gary Borich, Educational Testing and Measurement – Classroom Application and Practice, John & Són. McMillan, Classroom Assessment – Principles and Practice for Effective Instruction, Allyn and Bacon.
Kiểm tra đánh giálà phương pháp đo trực tiếp trong quá trình dạy – học để đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục. Ở một số nước phát triển, người ta đã đạt được sự công bằng trong đánh giá thành tích học tập của học sinh, sinh viên và đáng tiếp tục nghiên cứu để đánh giá sự phát triển của người học. Ở Việt nam, vấn đề kiểm tra đánh giácũng đã được một số chuyên gia nghiên cứu: ● Nguyễn Đức Chính, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng Lưu hành nội bộ - Khoa sư phạm, Hà nội 2004. ● Dương Thiệu Thống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005.
● Lâm Quang Thiệp, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, 2003. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ● Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng, Khoa sư phạm, Hà nội 2006. ● Đặng Bá Lãm, Kiểm tra đánh giátrong dạy học đại học, Nxb Giáo dục, Hà nội 2003. ● Nguyễn Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giátheo mục tiêu, tập bài giảng, Khoa Sư phạm, Hà nội 2005.
Đề tài “Các biện pháp quản lý nh ằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra – đánh giá k ết quả học tập của học sinh tại trường THPT Lương sơn - Phú thọ - Phú thọ " lần đầu tiên được nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập tại trường trung học phổ thông Lương sơn – Yên lập, đề tài có tính khả thi cao và mang tính cấp thiết trong công tác đào tạo tại nhà trường trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm của đề tài 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại.
Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt được mục đích. Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hôi hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý.
Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy mô tương đối lớn, thì ít hay nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình. còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động.
Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm. Taylor (1856 - 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ hay không ” Henri Fayol (1841 - 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra ” Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “ Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “ Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của cá nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất ” Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung: Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động; Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý; Liên quan tới môi trường xác định. Từ các dấu hiệu chung này, chúng ta có thể khái quát như sau; Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Biện pháp quản lý Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999) do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”. Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết nhứng vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đặt ra. Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý. Có 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: Biện pháp hành chính tổ chức, biện pháp tâm lý – giáo dục, biện pháp thuyết phục và biện pháp kinh tế.
Biện pháp hành chính tổ chức: là cách tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định. Biện pháp tâm lý – giáo dục: (còn gọi là biện pháp tuyên truyền giáo dục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như Tâm lý học, Khoa học giáo dục .