phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về kiểm toán chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng kiểm toán chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Kiểm toán Nhà nƣớc. Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng kiểm toán chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Kiểm toán Nhà nƣớc.
4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN CHƢƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chất lƣợng KTNN nói chung và chất lƣợng kiểm toán CTMTQG của Kiểm toán Nhà nƣớc nói riêng là vấn đề đƣợc các tổ chức kiểm toán (KTNN, công ty kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ), các hiệp hội kiểm toán (hiệp hội KTNN, kiểm toán độc lập) quan tâm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách khoa học, bài bản nâng lên tầm lý luận và chỉ dẫn định hƣớng mang tính phổ quát về vấn đề này chƣa nhiều. Sau đây là một số nghiên cứu chủ yếu, tiêu biểu.
Đề tài khoa học cấp bộ: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Bộ Tài chính (2001); Chủ nhiệm đề tài: PGS. Vƣơng Đình Huệ. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lƣợng và kiểm tra chất lƣợng dịch vụ kiểm toán độc lập (sự cần thiết, các yếu tố kiểm tra chất lƣợng, cơ chế, nội dung và phƣơng pháp kiểm tra chất lƣợng kiểm toán. Đề tài đã đề xuất cơ chế kiểm soát chất lƣợng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán; nội dung và phƣơng pháp kiểm tra; quy trình kiểm tra.
Đây là một đề tài nghiên cứu khá thành công về cơ chế và cách thức, nội dung kiểm soát chất lƣợng kiểm toán, có giá trị tham khảo tốt, gợi mở hƣớng nghiên cứu cho luận án. Tuy nhiên, do chỉ nghiên cứu về kiểm toán độc lập, nên đề tài không đề cập đến hoạt động KTNN. Vấn đề kiểm soát chất lƣợng kiểm toán cũng đƣợc cơ quan KTNN rất quan tâm nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu khoa học. Từ khi Luật KTNN có hiệu lực (năm 2006) đến nay có 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về kiểm soát chất lƣợng kiểm toán.
Đó là: Đề tài khoa học cấp bộ: “Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng kiểm toán của KTNN”, do Thạc sỹ Nguyễn Trọng Thuỷ làm chủ nhiệm (nghiệm thu tháng 9/2010), với đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu về tổ chức công tác 5 z kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng kiểm toán. Đề tài đã hệ thống, tổng hợp những vấn đề lý luận cơ bản, khái quát về khái niệm kiểm soát chất lƣợng kiểm toán, các chuẩn mực quốc tế về kiểm soát chất lƣợng kiểm toán, các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán, tổ chức và cơ chế hoạt động kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng kiểm toán, phạm vi, phƣơng pháp kiểm tra, kiểm soát. Trên cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng kiểm toán, đề tài đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng kiểm toán. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ trong công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng cuộc kiểm toán.
Đề tài khoa học cấp bộ: “Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát hoạt động kiểm toán của KTNN chuyên ngành” do Thạc sỹ Lê Minh Khái làm chủ nhiệm (nghiệm thu tháng 8/2011), đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chất lƣợng kiểm toán; đánh giá thực trạng và hạn chế, tồn tại, chỉ ra một số nguyên nhân của hạn chế trong công tác kiểm soát chất lƣợng kiểm toán của KTNN chuyên ngành. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng kiểm soát hoạt động kiểm toán của KTNN chuyên ngành, tập trung vào kiểm soát đối với cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong kiểm soát hoạt động kiểm toán của KTNN chuyên ngành, chƣa bao hàm đầy đủ các cấp độ kiểm soát. Một số nghiên cứu ở nƣớc ngoài cũng đề cập đến vấn đề chất lƣợng và đảm bảo chất lƣợng trong hoạt động kiểm toán, tiêu biểu có thể kể đến tác phẩm “Đảm bảo chất lượng trong kiểm toán tài chính” (Quality assurance in financial auditing) của ASOSAI (2009), đề cập khái quát những vấn đề lý luận về đảm bảo chất lƣợng trong kiểm toán BCTC; hƣớng dẫn một số nội dung và quy trình đảm bảo chất lƣợng kiểm toán.
Tuy nhiên, đó chỉ là các hƣớng dẫn cơ bản, định hƣớng cho các cơ quan KTNN thuộc ASOSAI. Các vấn đề lý luận mang tính khái quát, nhƣng chƣa toàn diện. Mặt khác, phạm vi nghiên cứu trong giới hạn kiểm soát chất lƣợng do đơn vị chuyên trách (đơn vị đảm bảo chất lƣợng kiểm toán) thực hiện qua kiểm soát hồ sơ, không bao gồm các cấp độ kiểm soát khác trong quá trình kiểm toán (kiểm soát của tổ kiểm toán, đoàn kiểm toán, KTNN chuyên ngành (khu vực), lãnh đạo KTNN). 6 z Ngoài ra, còn có một số tài liệu của một số cơ quan KTNN khác trên thế giới đề cập đến hoạt động kiểm soát chất lƣợng kiểm toán.
KTNN Cộng hoà Liên bang Đức với “Quy chế kiểm toán và cẩm nang kiểm toán của KTNN cộng hoà liên bang Đức”, Nxb Thống kê, Hà Nội (2004), nêu ra các nguyên tắc, trình tự xử lý, quyết định các kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN Cộng hoà Liên bang Đức, theo các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Trên đây là các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài luận văn. Các công trình nghiên cứu đó có những đóng góp đáng kể trong việc giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lƣợng và kiểm soát chất lƣợng kiểm toán của KTNN trong giai đoạn lịch sử nhất định, có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu luận án. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện và có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về chất lƣợng kiểm toán các CTMTQG, đặc biệt là chất lƣợng kiểm toán các CTMTQG xây dựng nông thôn mới của Kiểm toán Nhà nƣớc.
Cơ sở lý luận về chƣơng trình mục tiêu quốc gia 1. Khái quát chung về Chương trình mục tiêu quốc gia Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh những thuận lợi, mỗi quốc gia đều gặp phải khó khăn, thách thức cần giải quyết, trong đó có các vấn đề về an sinh xã hội (y tế, văn hóa, giáo dục.), thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, nâng cao đời sống cho nhân dân tại những khu vực kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn. Để có đƣợc sự phát triển bền vững các quốc gia phải giải quyết triệt để vấn đề này; mỗi nƣớc có cách tiếp cận và giải quyết khác nhau nhƣng về cơ bản các quốc gia thƣờng thiết kế những chƣơng trình mang tính tổng thể, đồng bộ trong đó các chƣơng trình, dự án thành phần sẽ hƣớng đến những vấn đề khác nhau cần giải quyết. Việt Nam không là ngoại lệ, chúng ta xây dựng các CTMTQG để giải quyết các khó khăn phải đối mặt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc trong những khoảng thời gian nhất định.
CTMTQG là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trƣờng, cơ chế, chính sách, pháp luật, tổ chức để 7 z thực hiện một hoặc một số mục tiêu ƣu tiên đã đƣợc xác định trong chiến lƣợc 10 năm và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong một thời gian nhất định. Một CTMTQG gồm các dự án có liên quan với nhau để thực hiện các mục tiêu cụ thể của chƣơng trình. Đối tƣợng quản lý và kế hoạch hóa thực hiện theo chƣơng trình, việc đầu tƣ đƣợc thực hiện theo dự án. Dự án thuộc Chƣơng trình MTQG là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu cụ thể của Chƣơng trình, đƣợc thực hiện trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian nhất định và dựa trên những nguồn lực đã xác định.
Dự án bao gồm dự án đầu tƣ, dự án sự nghiệp công cộng hoặc dự án hỗn hợp. Cơ quan quản lý CTMTQG là các Bộ, cơ quan ngang Bộ đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý thực hiện CTMTQG trong từng giai đoạn. Mục đích các Chương trình mục tiêu quốc gia Mục đích của việc thiết lập các CTMTQG là để giải quyết các vấn đề đã đƣợc xác định ƣu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Do đó, có thể khẳng định CTMTQG là một phần trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, quá trình thực hiện CTMTQG sẽ góp phần quan trọng vào quá trình phát triển nền kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ các cấp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, đƣợc thể hiện trên các mặt sau: - Góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội: Thông thƣờng các CTMTQG đƣợc thiết kế đều có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả thực hiện (số lao động đƣợc tạo việc làm; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị; tỷ lệ hộ nghèo; tỷ lệ trẻ em suy dinh dƣỡng dƣới 5 tuổi; tỷ lệ dân số nông thôn đƣợc sử dụng nƣớc hợp vệ sinh.
Cùng với kết quả việc thực hiện chỉ tiêu của các chƣơng trình đạt đƣợc một phần giúp Chính phủ hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế xã hội của đất nƣớc trong những giai đoạn nhất định; - Đóng góp quan trọng đối với sự phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phƣơng: Thông qua CTMTQG các vấn đề nóng của các Bộ, ngành, địa phƣơng đều đƣợc xem xét và giải quyết nhƣ: vấn đề việc làm; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền trong cả nƣớc; sử dụng nƣớc sạch; phòng chống dịch bệnh nguy hiểm và 8 z HIV/AIDS; dân số và kế hoạch hóa gia đình. Có thể thấy thông qua các chƣơng trình không những các vấn đề quan trọng đƣợc giải quyết mà bộ máy và năng lực hoạt động của các Bộ, ngành, địa phƣơng đã đƣợc tăng cƣờng đáng kể.