phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương. Cụ thê: Chất lượng hoạt động truyền thông chính sách của các dai truyền thanh cấp huyện tỉnh Vĩnh Long - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Thực trạng chất lượng hoạt động truyền thông chính sách của các đài truyền thanh cấp huyện tỉnh Vĩnh Long hiện nay. Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông chính sách của các đài truyền thanh cấp huyện tỉnh Vĩnh Long.
CHAT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TRUYEN THONG CHÍNH SÁCH CUA CAC DAI TRUYEN THANH CAP HUYỆN TỈNH VĨNH LONG - MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1. Truyền thông và truyền thông chính sách 1. Truyền thông Có thé dẫn ra hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi định nghĩa, quan niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng.
Tuy nhiên, các định nghĩa, quan niệm khác nhau vẫn có những điểm chung với những nét tương đồng rất cơ bản, đồng thời lại có những hạn chế nhất định. Truyền thông theo gốc latinh là “communicare” nghĩa là biến nó thành thông thường (hay thực tế), chia sẻ, truyền tải thành cái chung. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/ một nhóm người sang một nguoi/ một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc loại ký hiệu khác. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đôi, tương tác thông tin, tư tưởng, tình cảm, kiến thức và kinh nghiệm với nhau về các vấn đề của đời sông cá nhân/ nhóm xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/ nhóm/ xã hội theo hướng có lợi cho cộng đồng, cho sự phát triển bền vững.
Mục đích cuối cùng của truyền thông là thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của cộng đồng xã hội. Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm.chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau dé gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bao đảm sự phát triển bền vững. 15 Cùng đồng tình quan điểm này, PGS - Tiến sĩ Dương Xuân Sơn cũng cho răng: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Ở đây Ông cũng nhắn mạnh tới 3 khía cạnh của định nghĩa: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa là không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khoảng thời gian lớn.
Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyên tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó. Đấy là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có 2 thực thé và không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận. Thứ hai, truyền thông dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yêu tỗ này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông. Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, néu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa.
Truyền thông và tuyên truyền là những khái niệm có những tương đồng và khác biệt cơ bản; đều hướng tới đạt được mục đích của chủ thé đã được thiết lập; đều hướng tới thu phục công chúng - nhóm đối tượng nhất định. Nhưng truyền thông là khái niệm rộng, được thực hiện thông qua phương thức tương tác bình đăng, đề cao vai trò, vị trí và tính tích cực chủ động tham gia của công chúng (hay một nhóm đối tượng truyền thông). Tuyên truyền cũng là một dạng thức của truyền thông, cũng nhằm mục đích thu phục công chúng với mục tiêu đã định trước nhưng chủ yếu là truyền thông 1 chiều, áp đặt thậm chí nhắn mạnh đến mức tuyệt đối hóa vai trò của chủ thể mà ít coi trọng vai trò tích cực của khách thể hay công chúng tham gia. Truyền thông là một khái niệm rộng phản ánh quá trình trao đổi, tương tác thông tin của con người trong xã hội, là sợi dây liên kết xã hội, là 16 động lực kích thích sự phát triển xã hội và là công cụ can thiệp hữu hiệu nhất của các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Trong truyền thông có ít nhất hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ quy tắc và các hiệu ứng chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi đến người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi, liên kết người gửi và người nhận. Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian và một không gian nhất định - không gian xác định hoặc không gian mở, trong đó bao gồm các yếu tố cơ bản cần có là: nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi và nhiễu.
Ban chất xã hội của truyền thông là quá trình giao tiếp xã hội. Thông tin trong truyền thông chủ yếu là cung cấp sự kiện và vấn đề, kỹ năng và kinh nghiệm mà chủ thê và khách thể quan tâm hoặc liên quan đến mục đích truyền thông nhăm tham gia giải quyết các van dé cộng đồng; thông qua đó làm co sở cho việc mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi cho công chúng tiếp nhận và cho chủ thé truyền thông theo chủ định của nhà truyền thông và đáp ứng nhu cầu người tiếp nhận, công chúng. Truyền thông còn là phương tiện và phương thức kết nối xã hội. Thông qua thông tin giao tiếp xã hội, truyền thông là phương tiện và phương thức kết nối xã hội hiệu quả nhất.
Tùy theo dang thức và cấp độ của loại hình truyền thông mà mức độ kết nối (hay liên kết) xã hội khác nhau. Truyền thông cũng là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội. Moi van dé xã hội đều do con người tạo nên và giải quyết từ chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng.thông qua các phương tiện và dạng thức truyền thông, thông điệp truyền thông tác động vào nhận thức, thái độ và hành vi xã hội của đông đảo công chúng xã hội, giúp công chúng có thêm thông tin, hiểu biết, nhận thức để có thể giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. Truyền thông đặc biệt là truyền thông đại chúng là phương tiện hữu hiệu trong giám sát và phản biện xã hội, phản ánh tâm tư, nguyện vọng và thê 17 hiện sức mạnh xã hội của cộng đồng - thậm chí tạo nên áp lực xã hội băng dư luận xã hội trong quá trình tìm kiếm các giải pháp tối ưu cho việc giải quyết, can thiệp các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội một cách hiệu quả.2 Chính sách Chính sách là sản phẩm của quá trình ra quyết định lựa chọn các vấn dé, mục tiêu và giải pháp dé giải quyết.
Chính sách có bản chất thuộc về chính trị. Quá trình ra quyết định chính sách là một quá trình chính trị. Nhưng sản phâm của quá trình hoạch định chính sách thì dé nhận thấy hơn, ví dụ như các quy định cụ thể, chỉ tiết của pháp luật, và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội, đến sinh kế của mỗi người. Trên thực tế thì người ta quan tâm nhiều hơn đến những chính sách được làm ra bởi nhà nước (hoặc được nhà nước “ủy quyền” trong một 36 trường hợp), được hiểu là chính sách công.
Chính sách và chính sách công, do đó, thường được dùng thay thế cho nhau. Chính sách (hay còn gọi là chính sách công) là vấn đề quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như với từng địa phương cụ thé. Chính sách công được định nghĩa là một tép hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn dé kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Việc xây dựng, hoạch định chính sách, công bố chính sách tới người dân, thực thi như thế nào liên quan nhiều tới công tác truyền thông chính sách.
PGS-TS Nguyễn Văn Dững (2018) cho rằng: Chính sách công là quan điểm, thái độ, cách tiếp cận, quyết sách và cách thức giải quyết hoặc không giải quyết van đề liên quan đến lợi ích cộng đồng, liên quan đến lợi ích của các nhóm xã hội lớn, trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích nhân dân nói chung, của nhà nước hay chính phủ, chính quyên, của tô chức 18 chính trị - xã hội trong hệ thống chính tri của một quốc gia. Chính sách công chính là công cụ của nhà nước nói chung được dùng dé giải quyết các van đề thực tiễn, điều hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội lớn, tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm phát triển bền vững. Một số định nghĩa về Chính sách Chính sách “thiết kế sự lựa chọn quan trọng nhất (đã) được làm ra (thực thi)”, đối với các tổ chức, cũng như đời sống cá nhân (Lasswell 1951). Điểm lưu ý ở đây là, chính sách phải là quyết định đã được lựa chọn thực hiện, không phải một dự định; Chính sách là một tiến trình hành động có mục đích được thực hiện bởi các chủ thể nhăm giải quyết một vẫn đề được quan tâm (Anderson 1975); hay Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một van dé (Anderson 1984); Chính sách là quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không (Wheelan 2011); Chính sách là một phan của khung khô các ý kiến, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc sống (Colebatch 2002).
Những định nghĩa trên không có từ “công” (public) và không có nêu một chủ thé cụ thé nào.