Chương 1: Những vấn đề chung về hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cơ sở. Chương 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2015 – 2020. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Tư Nghĩa trong thời gian tới. e 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1.
Hệ thống chính trị, đặc điểm hệ thống chính trị ở Việt Nam 1. Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một phạm trù quan trọng của khoa học chính trị. Bởi vì nó là tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị, của đời sống chính trị. Qúa trình xuất hiện của hệ thống chính trị, gắn liền với sự tồn tại của giai cấp, nhà nước, nhằm thực hiện mục đích chung là bảo vệ lợi ích và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền là công cụ quan trọng để giai cấp cầm quyền thực hiện đường lối chính trị của mình.
Trong bất kỳ chế độ chính trị nào, xây dựng và phát triển hệ thống chính trị là nhiệm vụ quan trọng để giai cấp cầm quyền giữ vững và nâng cao năng lực lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị – là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị, cũng như các bộ phận các nhân tố tham gia vào các quá trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại liên quan đến vấn đề này có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau. Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận, bao gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào quá trình của đời sống xã hội, củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. “Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thế chế chính trị (political institutes - các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội.) được xây dựng trên các e 8 quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một quan hệ chức năng nhất định, vận hành theo những cơ chế nguyên tắc, và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.
Hệ thống chính trị là một khái niệm xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, được Đảng ta chính thức nêu ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu khóa VI vào tháng 3 – 1989, trong đó chỉ rõ đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả. Tại Việt Nam hiện nay, hệ thống chính trị bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam), được xây dựng và hoạt động theo những mối quan hệ, cơ chế và nguyên tắc nhất định, thống nhất từ trung ương đến địa phương và cơ sở, nhằm thực thi quyền lực chính trị của nhân dân, với mục đích xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân chính trị, lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột của hệ thống chính trị, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của hệ thống chính trị ở nước ta.
Ba bộ phận của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên sức mạnh, sự nhịp nhàng trong quá trình lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu sự nghiệp đổi mới. Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Hệ thống chính trị được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội, một môi trường lịch sử văn hoá chính trị nhất định. Vì vậy, hệ thống e 9 chính trị không những mang tính phổ biến, mà còn mang tính đặc thù. Hệ thống chính trị Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó.
Hệ thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đặc điểm này vừa mang tính chung đối với hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa, vừa mang đặc tính riêng từ điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo, sự tín nhiệm của nhân dân, được nhân dân ủng hộ và thừa nhận một cách chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới xã hội.
Thứ hai: Hệ thống chính trị nước ta mang tính thống nhất và được tổ chức chặt chẽ theo mô hình mô hình xô viết. Đặc điểm naỳ cho thấy hệ thống chính trị ở nước ta có nhiều điểm mạnh, nhưng cũng có nhiều hạn chế cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta. Tính thống nhất của hệ thống chính trị ở nước ta được thể hiện ở chỗ: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, các thành tố cấu thành hệ thống chính trị như Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có vị trí chức năng riêng nhưng đều thực hiện mục tiêu chung. Ngoài ra, hệ thống chính trị còn trở thành phương tiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Thứ ba, hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị nước ta. Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị , quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. e 10 Thứ 4, các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta đều là các tổ chức do Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Vì vậy, một mặt, các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở vững chắc của Đảng, gắn bó chặt chẽ với Đảng. Mặt khác, với điều kiện Đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, các tổ chức này trong lúc thực hiện các chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội đã biểu hiện sự thiếu chủ động, thiếu độc lập, nguy cơ hành chính hóa. Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ vừa cho thấy những khó khăn, thách thức mà chúng ta phải giải quyết. vừa đặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện HTCT nước ta.
Hệ thống chính trị cơ sở 1. Khái niệm Theo quy định tại điều 118, Hiến pháp 1992 các cấp hành chính nước ta được phân định như sau: „”Nước chia thành Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành Huyện, Thành phố thuộc Tỉnh, Thị xã; Thành phố thuộc Tỉnh chia thành Quận, Huyện và Thị xã; Huyện chia thành Xã, Thị trấn; Thành phố thuộc Tỉnh, Thị xã chia thành Phường; Quận chia thành Phường.” Như vậy cấp cơ sở (hay còn gọi là cấp xã) ở nước ta có ba loại hình tổ chức: xã, thị trấn, phường. Nói đến cơ sở là nói đến cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị, hệ thống hành chính nhà nước. Ở nước ta, đó là cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn).
Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vị trí đặc biệt, vì đó là cấp gần dân nhất, cấp xa trung ương nhất. Các cấp chính quyền như tỉnh và huyện là hai cấp trung gian nối Trung ương với cơ sở. Trong quá trình thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước thì chính quyền cấp cơ sở là cấp trực tiếp làm việc với dân, còn các cấp khác thì chủ yếu là làm việc với hệ thống chính quyền. e 11 Hệ thống chính trị cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, là nơi thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Đặc biệt, chính quyền cơ sở là nền tảng của nền hành chính, sát dân, gần dân nhất. Hệ thống chính trị cơ sở còn có vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối giữa người dân và chính quyền, có nhiệm vụ chuyển tải, truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân và tổ chức quán triệt, triển khai để nhân dân thực hiện. Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX nhận định “ các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú sinh sống. Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, phát huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư” [6, tr.
Hệ thống chính trị cơ sở bao gồm Đảng bộ cơ sở, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động trong một cơ chế nhất định nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm của nhân dân ở cấp cơ sở.